JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Tiếp cận thị trườngThị trường khácTin tức thị trường khácThị trường lúa gạo Hàn Quốc: Mở cửa hay không mở cửa?

Thị trường lúa gạo Hàn Quốc: Mở cửa hay không mở cửa?

 

lua6

Ngày 18 tháng 7 năm 2014, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp Hàn Quốc chính thức công bố quyết định của chính phủ về việc mở cửa thị trường gạo của đất nước từ năm 2015. Chính xác hơn, chính phủ Hàn Quốc quyết định thuế quan hóa nhập khẩu gạo. Tại vòng đàm phán Uruguay ("UR"), các nước tham gia đàm phán đã đồng ý trên nguyên tắc "chỉ thuế quan" hoặc "thuế quan hóa không có ngoại lệ" đối với các sản phẩm nông nghiệp. Vì vậy, các thành viên WTO được dự kiến sẽ chuyển đổi các biện pháp phi thuế quan đối với các sản phẩm nông nghiệp sang thuế quan, và giảm thuế theo lộ trình. Các nước phát triển dự kiến sẽ giảm thuế quan xuống còn trung bình 36% trong vòng 6 năm trong quá trình thực hiện, và các nước đang phát triển được dự kiến sẽ giảm thuế xuống còn trung bình 24% trong khoảng thời gian 10 năm. Đồng thời, Hiệp định về Nông nghiệp sẽ bao gồm điều khoản "đối xử đặc biệt" cho các sản phẩm đặc biệt nhạy cảm mà theo đó hàng nông sản có thể bị hạn chế nhập khẩu trong thời gian thực hiện, với mốc tính bắt đầu từ cuối năm 2000 cho các nước phát triển và đến cuối năm 2004 đối với các nước đang phát triển. Có bốn nước đã vận dụng các điều khoản này bao gồm: Hàn Quốc, Nhật Bản, và Philippines cho sản phẩm lúa gạo, và Israel cho sản phẩm thịt cừu, sữa bột nguyên kem và pho mát.

Đài Loan vận dụng cơ chế đối xử đặc biệt đối với gạo khi trở thành thành viên WTO vào năm 2002. Hàn Quốc, nước đã được thừa nhận là một quốc gia đang phát triển tại các cuộc đàm phán UR, đã chọn biện pháp hoãn thuế quan hóa nhập khẩu gạo cho đến cuối năm 2004, và gian hạn thêm 10 năm nữa tức là đến hết năm 2014. Với quyết định mới đây của mình, chính phủ Hàn Quốc đã gửi lên WTO kế hoạch dự thảo áp dụng thuế quan hóa mặt hàng gạo và sẽ có hiệu lực nếu trong vòng 3 tháng không nhận được ý kiến phản đối, Chứng nhận Điều chỉnh và Sửa đổi sẽ được ban hành tại Hàn Quốc, phù hợp với Quyết định về thủ tục Điều chỉnh và Sửa đổi của Biểu Ưu đãi Thuế quan (GATT 1980).

Hàn Quốc gần như đã rơi vào khủng khoảng trong 6 tháng cuối năm 2014, vì sự phản đối kịch liệt của nhiều thành phần đối với kế hoạch mở cửa thị trường gạo của chính phủ đương nhiệm. Vào ngày thông báo của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp, nhiều nhóm nông dân đã tụ tập ở phía trước Tòa nhà Chính phủ và tổ chức tuần hành suốt đêm, phản đối quyết định tự do hóa thị trường gạo. Các nhóm nông dân đã cảnh báo rằng họ sẽ tổ chức một buổi lễ phản đối vào ngày 01 tháng 9 mà tiếp theo sau là các cuộc biểu tình trên toàn quốc cho đến khi chính phủ thay đổi quyết định của mình. Người biểu tình chỉ trích chính phủ mở cửa thị trường lúa gạo của đất nước quá sớm và quá dễ dàng, mà không dùng bất kỳ biện pháp nào để bảo vệ nó. Những người biểu tình tuyên bố rằng chính phủ Hàn Quốc có thể vẫn tiếp tục đóng cửa thị trường gạo hoặc gia hạn áp dụng cơ chế đối xử đặc biệt theo Hiệp định về Nông nghiệp hoặc duy trì nguyên trạng cho đến khi các cuộc đàm phán Chương trình Phát triển Doha ("DDA") hoàn tất.

Vấn đề thị trường gạo Hàn Quốc trong WTO

Hàn Quốc hoàn toàn có thể lựa chọn chưa mở cửa thị trường gạo của mình theo kết quả trong các cuộc đàm phán UR, tuy nhiên lựa chọn này phải chịu những điều kiện rất nghiêm ngặt và phải trả giá cao. Từ ngày 18/7/2014, chính phủ Hàn Quốc thông báo ý định mở cửa thị trường gạo từ 1/1/2015, chấm dứt 20 năm áp dụng cơ chế "đối xử đặc biệt" theo Hiệp định của WTO về Nông nghiệp. Hiệp định cho phép Hàn Quốc áp dụng các rào cản thương mại phi thuế quan đối với nhập khẩu gạo. Theo điều khoản này, Hàn Quốc phải nhập khẩu gạo theo hạn ngạch tiếp cận thị trường tối hệ quốc (CSQ – MMA) trong vòng 10 năm bắt đầu từ năm 1993. Hàn Quốc được phép mở rộng thời hạn cho hạn ngạch MMA thêm 10 năm nữa tính từ năm 2004. Nhập khẩu gạo của Hàn Quốc theo hạn ngạch MMA đã tăng từ 51.307 tấn năm 1995 lên 408.700 tấn năm 2014.

Ngày 20 tháng 1 năm 2004, chính phủ Hàn Quốc đã thông báo ý định tiến hành đàm phán để gia hạn việc áp dụng cơ chế đặc biệt cho thị trường gạo, theo Điều 8, Phụ lục 5 Hiệp định về Nông nghiệp (WTO, 2004). Chính phủ Hàn Quốc đã tiến hành đàm phán với Mỹ, Trung Quốc, Úc, Thái Lan, Ấn Độ, Pakistan, Argentina, Ai Cập và Canada, những quốc gia quan tâm đến thị trường gạo Hàn Quốc. Sau 8 tháng đàm phán, Hàn Quốc đạt thỏa thuận với 9 quốc gia này về những vấn đề khác biệt và trình dự thảo sửa đổi thời hạn lên WTO, và thời hạn sửa đổi đã được chấp thuận vào ngày 13 tháng 4 năm 2005 (WTO, 2005), và không có sự phản đối nào trong vòng ba tháng sau đó. Sự gia hạn thời hạn áp dụng đặc biệt kèm theo điều kiện Hàn Quốc phải tăng hạn ngạch MMA từ 4,4%lên đến 7,96% khối lượng tiêu thụ gạo tương ứng trong thời gian 10 năm, từ năm 2005 đến năm 2014. Khối lượng hạn ngạch MMA đã lên tới 225.575 tấn vào năm 2005 và 408.700 tấn năm 2014.

Khối lượng hạn ngạch nhập khẩu gạo MMA của Hàn Quốc năm 2004 là 205.228 tấn, hạn ngạch đã được phân bổ cho các nhà xuất khẩu gạo Trung Quốc, Mỹ, Thái Lan, Úc tương ứng 116.159 tấn, 50.076 tấn, 29.963 tấn và 9030 tấn. Ngoài ra, Hàn Quốc cũng phải cam kết gia tăng thêm khối lượng nhập khẩu gạo tương đương từ 10 đến 30% tổng khối lượng hạn ngạch MMA, trong vòng 6 năm kể từ 2005 đến năm 2010. Ngoài cam kết trong hiệp định đa phương, Hàn Quốc còn phải thực thi các cam kết trong các hiệp định song phương riêng rẽ với 9 quốc gia khác, ngoại trừ Pakistan, về các vấn đề kỹ thuật và thủ tục liên quan đến việc thực thi các hiệp định đa phương và các điều khoản bổ sung cụ thể trong các cam kết song phương như điều chỉnh thuế nhập khẩu các sản phẩm thủy sản, thủ tục đánh giá rủi ro đối với thịt bò, thịt gia cầm, và các loại trái cây, v.v. (Bộ Nông nghiệp và Lâm nghiệp Hàn Quốc, 2005). Tuy nhiên, nội dung chi tiết các điều khoản cụ thể trong các cam kết bổ sung này không được các bên công bố. Điều 9 Phụ lục 5 Hiệp định về Nông nghiệp quy định rằng các thành viên WTO, những người muốn kéo dài thời hạn áp dụng các cơ chế đối xử đặc biệt phải "nhượng bộ thêm và chấp nhận nhân nhượng trong thỏa thuận này". Các nhân nhượng có thể được quy định trong các hiệp định song phương hay các thỏa thuận đa phương, miễn là nó là kết quả của các cuộc đàm phán.

Hàn Quốc có nên kéo dài thời hạn áp dụng cơ chế đối xử đặc biệt nghĩa là tiếp tục đóng cử thị trường gạo?

Những người có quan điểm rằng chính phủ Hàn Quốc nên tiếp tục đóng của thị trường gạo lập luận rằng việc này hoàn toàn hợp pháp theo Phụ lục 5 của Hiệp định về Nông nghiệp.

Thứ nhất, Điều 3 và 4 của Phụ lục 5 cho phép Hàn Quốc tiến hành đàm phán với các thành viên WTO khác gia hạn thời gian áp dụng điều khoản đặc biệt đối với thị trường gạo (Lee, 2014). Như đã đề cập ở trên, nguyên tắc chỉ dựng hàng rào bằng thuế quan đã được thông qua như là một kết quả của các cuộc đàm phán UR cho các sản phẩm nông nghiệp, và nguyên tắc này được quy định tại Điều 4. Đồng thời, mục 2 điều 4 cũng có quy định về cách thức áp dụng điều khoản đặc biệt. Điều 3 và Điều 4 của Phụ lục 5 quy định

[Điều 3] Bất kỳ đàm phán nào để gia hạn việc áp dụng đối xử đặc biệt theo quy định tại khoản 1 phải kết thúc trong khung thời hạn cũ và coi đây như là một phần của các cuộc đàm phán được quy định tại Điều 20 của Hiệp định này, theo đó có tính đến các yếu tố phi thương mại.

[Điều 4] Nếu đã đạt được thoả thuận trong các cuộc đàm phán cho phép Thành viên có thể tiếp tục áp dụng cơ chế đối xử đặc biệt, thì thành viên này sẽ phải có thêm nhượng bộ và chấp nhận các nhân nhượng đã cam kết trong cuộc đàm phán này.

Điều 3 quy định rằng một thành viên có thể khởi động đàm phán trong một khung thời gian nhất định, và Điều 4 nói rằng việc đối xử đặc biệt có thể được tiếp tục áp dụng khi đạt được một thỏa thuận trong quá trình đàm phán. Tuy nhiên, những quy định này không áp dụng đối với các trường hợp thị trường gạo của Hàn Quốc. Những điều khoản nằm trong Section A của Phụ lục 5, mà mục đích ban đầu của nó là để áp dụng cơ chế đối xử đặc biệt đối với một số sản phẩm nông nghiệp được chỉ định bởi các nước phát triển. Vì vậy, Nhật Bản và Israel hoãn mở cửa thị trường gạo, thịt cừu và một số sản phẩm cụ thể từ sữa theo Section A.Cùng thời điểm này, việc áp dụng cơ chế đối xử đặc biệt dành cho gạo của Hàn Quốc và Philippines đã được WTO chấp thuận nằm ngoài phạm vi Section A, mà lại thuộc nội dung Section B.Do đó, Hàn Quốc không có căn cứ pháp lý đểgia hạn việc mở của thị trường gạo của mình, cũng như ngay từ lúc đầu Hàn Quốc cũng chưa có đủ tiêu chuẩn để áp dụng cơ chế này. Ngoài ra, ngay cả khi Hàn Quốc có thể vận dụng các điều khoản tại Điều 3, thì cũng không có cơ sở đền kéo dài việc áp dụng cơ chế đối xử đặc biệt đặc biệt do vướng quy định về thời hạn.

Hàn Quốc vẫn có thể tiếp tục trạng thái đóng của đối với thị trường gạo và duy trì MMA như hiện nay dựa trên cơ sở Điều 3. Một số nhà bình luận cho rằng "một cuộc đàm phán được quy định trong Điều 20" quy định tại Điều 3 có nghĩa là các cuộc đàm phán DDA, và trong thực tế có nhiều nước đang bế tắc trong đàm phán DDA (Mở thị trường gạo, năm 2014). Điều 3 tham chiếu đến Điều 20 về định nghĩa của cụm từ "một cuộc đàm phán", theo đó Điều 20 định nghĩa rằng "Các thành viên đồng ý rằng các cuộc đàm phán gia hạn phải được bắt đầu trước một năm so với thời điểm kết thúc thời gian thực hiện hiện tại". Đây là một quy định "xây dựng lịch trình" của Hiệp định về Nông nghiệp.

Cũng theo Điều 20, các thành viên WTO đã dự kiến bắt đầu tiến hành đàm phán để tiếp tục quá trình cải cách vào cuối năm 1999, tức là một năm trước khi kết thúc thời gian thực hiện hiện tại. Các cuộc đàm phán đã bắt đầu vào năm 2000 và tiếp theo các thành viên WTO đã nhất trí khởi động các cuộc đàm phán DDA tại Hội nghị Bộ trưởng được tổ chức tại Doha vào năm 2001, việc lĩnh vực nông nghiệp đã trở thành một phần của các cuộc đàm phán. Mặc dù "một cuộc đàm phán" không có nghĩa là chỉ các cuộc đàm phán DDA, mà nó có thể được hiểu là các cuộc đàm phán bắt buộc thuộc quy định tại Điều 20 đã nhập vào DDA. Trong thực tế, vấn đề này đang được thảo luận và chưa đưa lên cơ quan tranh chấp của WTO hoặc Cơ quan Phúc thẩm, vì Nhật Bản và Israel, hai trường hợp phù hợp với Điều 8, không còn được áp dụng cơ chế đối xử đặc biệt nữa. Như đã nói ở trên, Điều 3 không áp dụng cho trường hợp của Hàn Quốc, và cuộc đàm phán của Hàn Quốc về việc gia hạn thời gian áp dụng cơ chế đối xử đặc biệt không phải là một phần của DDA. Trong thực tế, nghĩa vụ của Hàn Quốc mở cửa thị trường cho nhập khẩu gạo khi hết thời hạn áp dụng cơ chế đối xử đặc biệt là kết quả của các cuộc đàm phán UR và nó đã được tiến hành trước DDA.

Hơn nữa, việc duy trì trạng thái "bế tắc" không phải là một chiến lược tốt trong trường hợp này. Mặc dù không có định nghĩa rõ ràng về khái niệm này, nó và thường đi theo hai hướng như thông lệ trong WTO. Thứ nhất, các thành viên WTO không đi ngược tiến trình tự do hóa thương mại, ngay cả trong khi không có các ràng buộc về luật lệ.Nói cách khác, các thành WTO nên duy trì tình trạng "bế tắc" và không có những động thái tiêu cực. Thứ hai, trong các cuộc đàm phán DDA, các thành viên không bắt buộc phải thực hiện những gì họ đã đồng ý cho đến khi tất cả mọi thứ được đồng ý. Thành viên WTO đã thông qua một quy tắc cam kết duy nhất trong DDA, đó là "Không có gì là đồng ý cho đến khi tất cả mọi thứ được đồng ý". Vì vậy, mặc dù các thành viên đạt được thỏa thuận về những vấn đề nhất định, thỏa thuận đó chỉ là tạm thời, và các thành viên không cần phải thực hiện chúng cho đến khi có sự đồng ý cả gói, nguyên tắc này thường được sử dụng các thành viên sử dụng như một chiến lược"đòn bẩy" trong các cuộc đàm phán (Choi, 2014). Tóm lại, khái niệm "bế tắc" dù thế này hay thế kia cũng không phải là lý do ảnh hưởng đến Hàn Quốc khi tiếp tục giữ nguyên tình trạng đóng cửa thị trường gạo của mình.

Chính phủ Hàn Quốc có thể thuế quan hóa thị trường gạo

Ngoài các Điều 3 và 4, các nhà bình luận cũng viện dẫn Điều 8 và Điều 9 của Phụ lục 5 trong lập luận của mình rằng Hàn Quốc có thể đàm phán với các thành viên WTO để tiếp áp dụng cơ chế đối xử đặc biệt với thị trường gạo (Chính phủ có thể thuế quan hóa thị trường gạo, 2014) cụ thể:

Điều 8: Bất kỳ một cuộc đàm phán về vấn đề liệu có thể tiếp tục áp dụng cơ chế đối xử đặc biệt như quy định tại khoản 7 sau khi kết thúc năm thứ 10 kể từ khi bắt đầu áp dụng đều phải được bắt đầu và hoàn thành trong năm cuối cùng trước khi bắt đầu áp dụng thời hạn bổ sung.

Điều 9. Nếu quá trình đàm phán đã có kết quả và đúng thời hạn như tại khoản 8, một thành viên có thể tiếp tục áp dụng cơ chế đối xử đặc biệt, cũng như thành viên này sẽ phải dành ưu đãi bổ sung và chấp nhận các nhân nhượng đã được xác định trong cuộc đàm phán này. Về nguyên tắc, các quy định này có thể được áp dụng trường hợp gạo của Hàn Quốc miễn là nó đáp ứng các tiêu chuẩn quy định.

Điều 8 và Điều 9 thuộc Section B, và Điều 7 nêu rõ rằng điều này áp dụng cho "một sản phẩm nông nghiệp chủ yếu nghĩa là sản phẩm chủ lực chiếm ưu thế trong chế độ ăn uống truyền thống của một Thành viên đang phát triển", và đó là gạo ở Hàn Quốc và Philippines. Hàn Quốc và Philippines, 3 quốc gia này đều được công nhận là nước đang phát triển, ban đầu cả ba nước đều được phép đóng cửa thị trường gạo theo quy định tại Điều 7. Sau đó, Hàn Quốc có thể viện dẫn Điều 8 và 9 năm 2014 để tiến hành bắt đầu đàm phán nhằm trì hoãn việc mở cửa thị trường gạo hay không? Câu trả lời là không thể. Điều 8 quy định rõ ràng rằng có một khung thời gian cho việc bắt đầu các cuộc đàm phán là "trong năm thứ 10"kể từ khi bắt đầu áp dụng. Hàn Quốc đã bắt đầu đàm phán vào năm 2004, tức là năm thứ 10 sau khi bắt đầu kỳ hạn thực hiện theo Điều 8. Có ý kiến cho rằng Hàn Quốc có thể vận dụng quy định này thêm một lần nữa là năm 2014 là năm thứ 10 của kỳ hạn thực hiện lần thứ 2. Lập luận này dường như là để giải thích "cho cái gọi là kỳ hạn thực hiện" như là khoảng thời gian thực hiện áp dụng cơ chế đối xử đặc biệt. Trong cách giải thích này, kể từ khi kéo dài thêm kỳ hạn áp dụng cơ chế đối xử đặc biệt bắt đầu vào năm 2005, năm thứ 10 của nó sẽ là năm 2014. Cách giải thích này dựa trên lập luận giả định rằng một thành viên có thể gia hạn thời gian áp dụng cơ chế đối xử đặc biệt liên tục theo Điều 8, với điều kiện đạt được thỏa thuận thông qua đàm phán. Tuy nhiên, cấu trúc của các Hiệp định về Nông nghiệp không cho phép lập luận như vậy.

Điều 4 công bố các nguyên tắc của thuế quan, và các loại trừ chỉ được cho phép tại Phụ lục 5. Khi đã có nguyên tắc và một ngoại lệ, nó sẽ là hợp lý khi đưa ra các trường hợp ngoại lệ ít nhất có thể; nếu không các ngoại lệ lại trở thành nguyên tắc. Hơn nữa, Điều 1 đã định nghĩa một cách rõ ràng về thuật ngữ "kỳ hạn thực hiện" là "kỳ hạn 6 năm bắt đầu vào năm 1995" "trừ khi có yêu cầu khác". Mặc dù Điều 15.2 quy định rằng "Các quốc gia thành viên đang phát triển phải có sự linh hoạt để thực hiện cam kết cắt giảm trong khoảng thời gian lên đến 10 năm", năm 1995 là năm bắt đầu của thời kỳ này. Và do đó, như định nghĩa này được áp dụng cho điều 9 của Phụ lục 5, "bắt đầu kỳ hạn thực hiện" nên được hiểu là năm 1995 và không phải là năm 2005. Cũng có thể phản biện rằng có thể viện dẫn cụm từ "trừ khi có yêu cầu khác" tại Điều 1, và "kỳ hạn thực hiện" có thể được hiểu như là "thời gian thực hiện việc áp dụng cơ chế đối xử đặc biệt" và không cần tuân theo quy định tại Điều 1 (f). Tuy nhiên, điều này có vẻ như các yêu cầu của Điều 8 không hỗ trợ thời điểm bắt đầu như vậy. Như đã đề cập ở trên, Điều 8 đưa ra ngoại lệ từ các nguyên tắc. Do đó, nó sẽ rất thích hợp để tạo ra các ngoại lệ từ các định nghĩa ban đầu nhằm mở rộng phạm vi của các ngoại lệ. Vì vậy, thật không ổn về mặt pháp lý để Hàn Quốc có thể gia hạn áp dụng cơ chế đối xử đặc biệt với gạo của mình mà vẫn phù hợp với một trong hai Điều 3 và 4 hoặc Điều 8 và Điều 9.

Do đó, điều đó có nghĩa rằng Hàn Quốc hoàn toàn không thể đàm phán với các thành viên WTO khác để trì hoãn mở cửa thị trường gạo? Câu trả lời là không. Thứ nhất, Hàn Quốc có thể viện dẫn Điều IX của Hiệp định thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), và yêu cầu một sự từ bỏ. Điều IX viết:

Trong trường hợp đặc biệt, Hội nghị Bộ trưởng có thể quyết định miễn trừ một nghĩa vụ đối với một thành viên của Hiệp định này hoặc của bất kỳ Hiệp định Thương mại Đa biên, quyết định này phải được ba phần tư số thành viên tán thành trừ khi có quy định khác.

Làm thế nào để được phép từ bỏ nghĩa vụ tự do hóa thị trường gạo

Hàn Quốc có thể yêu cầu từ bỏ nghĩa vụ tự do hóa thị trường gạo của mình bằng cách nộp yêu cầu này lên Hội đồng Thương mại Hàng hóa, và trong vòng 90 ngày kể từ ngày nộp hồ sơ, Hội đồng phải báo cáo lên Hội nghị Bộ trưởng. Trong thực tế, Philippines vận dụng quy chế này. Năm 2006, của Philippines đã gia hạn việc áp dụng cơ chế đối xử đặc biệt với gạo của mình thêm 7 năm và hết hạn vào tháng 6 năm 2012. Khi gần hết hạn, Philippines đã bày tỏ ý định tiếp tục gia hạn cơ chế đối xử đặc biệt, và bắt đầu đàm phán với các thành viên quan tâm. Philippines đã nộp đơn yêu cầu từ bỏ nghĩa vụ cho Hội đồng thương mại hàng hoá ngày 20 tháng 3 năm 2012 (WTO, 2012), nhưng không có kết quả. Sau hơn 2 năm đàm phán với các thành viên quan tâm, thì cuối cùng Philippines đã kết thúc được các thảo thuận và gửi yêu cầu cho Hội đồng thương mại hàng hoá (WTO, 2014) và được phê duyệt yêu cầu vào ngày 19 tháng 6 năm 2014, và quyết định của Hội đồng Thương mại Hàng hóa đã được thông qua bởi đại Hội đồng vào 5 ngày sau đó.

Một lần nữa Philippines đã được phép từ bỏ nghĩa vụ trong vòng 5 năm kể từ từ tháng 7 năm 2012 đến tháng năm 2017 với thị trường gạo của mình, dựa trên các điều kiện nghiêm ngặt. Bù lại Philippines đã phải mở rộng hạn ngạch MMA đối với gạo của mình lên 2,3 lần, từ 350.000 tấn lên 805.000 tấn, và CSQs từ 138.000 tấn phân bổ cho 3 nước lên 750.000 tấn cho 7 quốc gia (WTO, 2014). Ngoài ra, có thể Hoa Kỳ, Canada, Thái Lan cũng đã được cam kết đảm bảo tiếp cận nhiều hơn với thị trường thịt bò và gia cầm của Philippines, mặc dù nội dung chính xác không được tiết lộ. Hàn Quốc cũng có thể có được một sự khước từ cơ chế đối xử đặc biệt cho gạo bằng cách vận dụng Điều IX. Tuy nhiên, ngay cả khi điều này thành công, thì vẫn phải có thêm nhiều nhượng bộ. Hàn Quốc không thể có được sự từ bỏ mà không kèm điều kiện mở rộng MMA và cung cấp thêm lợi ích cho các thành viên quan tâm. Để có được sự từ bỏ, Hàn Quốc sẽ phải trả nhiều hơn so với những gì đã trả vào năm 2005,có thể thất điều này trong trường hợp Philippines. Năm 2005, chính phủ Hàn Quốc phải đối mặt với sự chỉ trích mạnh mẽ từ các hội nông dân về tổn thương của họ khi tiếp tục trì hoãn mở cửa thị trường gạo.

Thứ hai, Hàn Quốc có thể cố gắng để được gia hạn đối xử đặc biệt thông qua các cuộc đàm phán DDA. Trong thực tế, không có giới hạn các vấn đề có thể được nêu ra trong các cuộc đàm phán DDA. Tuy nhiên, một lần nữa, đây là một cuộc đàm phán, với bản chất đặc trưng nhất là cho-và-nhận. Ngoài ra, các cuộc đàm phán DDA trên thực tế đã bị tê liệt vì bế tắc từ tháng Tư năm 2011 và có nhiều hoài nghi rằng liệu các thành viên WTO có đủ ý chí để vực dậy.

Câu hỏi còn lại là: Hàn Quốc nên có được miễn trừ để gia hạn thời hạn áp dụng cơ chế đối xử đặc biệt bằng cách đổi chác để bảo vệ thị trường gạo của mình hay không? Điều này cần xem xét thận trọng, việc từ bỏ thực sự có thể bảo vệ thị trường lúa gạo Hàn Quốc trước gạo nhập khẩu như nó được khẳng định hay không?, hay chỉ đơn giản là một câu chuyện hoang đường. Để trả lời các câu hỏi, trước hết hãy xét ví dụ Nhật Bản và Đài Loan. Nhật Bản ngừng áp dụng cơ chế đối xử đặc biệt trước khi hết hạn, và Đài Loan đã quyết định không gia hạn sau một năm. Kết quả là, cả hai thành viên đều đã mở cửa thị trường gạo vào tháng 4 năm 1999 và tháng 1 năm 2003. Thời kỳ đó, hạn ngạch MMA của Nhật Bản và Đài Loan đã được cố định ở mức 7,2% và 8% của mức tiêu thụ gạo hàng năm, tương ứng 767.000 tấn và 144.720 tấn. Năm 2012, sau hơn một thập kỷ mở cửa thị trường, Nhật Bản nhập khẩu 7,3% mức tiêu thụ gạo trong nước hàng năm, trong khi đó Hàn Quốc phải nhập khẩu 7,5% (Kim, 2014).

Tự do hóa thị trường gạo không hẳn sẽ dẫn đến sự gia tăng nhập khẩu

Trong khi hạn ngạch MMA của Nhật Bản đã duy trì ổn định ở mức 7,2% kể từ năm 2000, MMA của Hàn Quốc đã tăng lên hàng năm. Năm 2013, Nhật Bản nhập khẩu chỉ 504 tấn gạo ngoài khối lượng MMA của mình (Kim, 2014). Các con số này chứng minh rằng việc tự do hóa thị trường gạo không hẳn là sẽ dẫn đến sự gia tăng nhập khẩu gạo như lo sợ của một số người. Nếu chính phủ Hàn Quốc quyết định gia hạn đối xử đặc biệt vào năm 2005 với mục tiêu giảm thiểu nhập khẩu gạo, cần phải đặt câu hỏi liệu mục tiêu đã đạt được hay chưa.

Hơn nữa, người ta dự đoán rằng Hàn Quốc sẽ cần phải tăng gấp đôi hạn khối lượng MMA hàng năm và lên đến 800.000 tấn để được gia hạn đối xử đặc biệt. Đây là một vấn đề nghiêm trọng, đặc biệt là trong bối cảnh mức tiêu thụ gạobình quân đầu người hàng năm của Hàn Quốc đang giảm dần, giảm từ 136,4kg vào năm 1970 xuống còn 82 kg vào năm 2004. Khối lượng hạn ngạch MMA của Hàn Quốc năm 2014, được ấn định ở mức 7.96% tiêu thụ gạo bình quân hàng năm từ năm 1989 đến năm 1990, như vậy nếu so với mức tiêu thụ hàng năm của năm 2013 thì con số này lên đến 9%. Đây là lý do tại sao rất nhiều người, bao gồm các nhóm nông dân, ủng hộ tự do hóa thị trường gạo, không chỉ vì nó là nghĩa vụ thành viên WTO của Hàn Quốc,mà nó còn có thể là một công cụ tốt hơn để giảm thiểu nhập khẩu gạo. Các chuyên gia đánh giá các mức thuế suất khoảng 200-400% là thích hợp.

Chính phủ cũng cho rằng, với mức thuế nhập khẩu gạo cao hơn 300%, gạo Hàn Quốc có thể duy trì khả năng cạnh tranh của mình trên thị trường Hàn Quốc và sẽ không có một sự gia tăng đột ngột hàng nhập khẩu. Trong khi một số chuyên gia cho rằng mức thuế nên thiết lập ở mức 400% mới đủ bảo vệ thị trường gạo Hàn Quốc, một số khác lại cho rằng mức thuế 200% là đủ vì khoảng cách giữa giá trong nước và giá thị trường thế giới đã thu hẹp. Trong thực tế, trong năm 2005, giá thành sản xuất gạo của Hàn Quốc cao hơn khoảng 4-5 lần so với thế giới, và vào năm 2013, mức chênh lệch này chỉ còn từ 2 đến 3 lần.

Nhìn chung, tiếp tục đóng cửa thị trường gạo Hàn Quốc bằng việc trả giá để có quyền khước từ cùng với điều kiện ngặt nghèo có vẻ không phải là cách có hiệu quả để duy trì khả năng cạnh tranh của gạo Hàn Quốc.

Sau khi trì hoãn thuế quan hóa gạo của mình trong 20 năm qua, chính phủ Hàn Quốc đã quyết định tự do hoá thị trường gạo từ năm 2015. Khi công bố quyết định chính thức, chính phủ đã bị chỉ trích là buông tay với ngành lúa gạo của mình, thay vì áp dụng các biện pháp để tiếp tục bảo vệ nó. Các đối thủ cho rằng chính phủ Hàn Quốc có thể trì hoãn thuế quan hóa hoặc bằng cách gia hạn áp dụng cơ chế đối xử đặc biệt theo Hiệp định về Nông nghiệp hoặc duy trì nguyên trạng cho đến khi chương trình nghị sự phát triển Doha (DDA) đàm phán hoàn tất. Tuy nhiên, Hàn Quốc có thể không phải vận dụng Phụ lục 5 của Hiệp định về Nông nghiệp và cũng không chấp nhận một vị trí giữ nguyên hiện trạng trong DDA để gia hạn áp dụng cơ chế đối xử đặc biệt. Trong khi Hàn Quốc cũng có thể yêu cầu miễn trừ theo quy định của Hiệp định WTO hoặc để đưa vấn đề này lên DDA, cho dù hành động này sẽ cho phép Hàn Quốc đạt được mục tiêu giảm thiểu nhập khẩu gạo. Mặc dù Hàn Quốc có thể có được quyền từ bỏ, nhưng đổi lại sẽ được yêu cầu nhượng bộ khác như mở rộng đáng kể khối lượng MMA và các cam kết khác trong các hiệp định song phương. Vì vậy, thuế quan là một hệ thống tốt hơn cho Hàn Quốc để duy trì tính cạnh tranh gạo của mình trong thị trường nội địa

Tài liệu tham khảo

Choi, W. (2014). Opening Korean Rice Market—It Cannot Be Postponed Again. Chosun Il-bo.

http://news.chosun.com/site/data/html_dir/2014/02/18/2014021804770.html

Delay of Rice Tariffication Works against the Farmers as well as the Government (2014). Herald Economy.

http://news.heraldcorp.com/view.php?ud=20140305000319&md=20140308005344_BK

GATT (1980). Procedure for Modification and Rectification of Schedule of Tariff Concessions: Decision of 28 March 1980, L/4962, 28 March 1980.

Government Can Postpone the Tariffication of Rice Imports (2014). Voice of People.

http://www.vop.co.kr/A00000770919.html

Keep a High Tariff on Rice (2014). Seoul Shin-Moon.

http://seoul.co.kr/news/newsView.php?id=20140719001014

Kim, Y. (2014). Rice Is Already Being Imported. JoongAng Il-bo.

http://article.joins.com/news/article/article.asp?total_id=15157239&cloc=olink|article|default

Korean Ministry of Agriculture and Forestry (2005). Outcomes of the Rice Negotiations and Future Plan: Report to the Agriculture, Forestry, Oceans and Fisheries Committee of the National Assembly, 253rd Session on April 18, 2005.

http://seoul.co.kr/news/newsView.php?id=20140719001014

Lee, H. (2014). Opening of the Rice Market: It Is Not an Obligation under International Law. Chosun Il-bo.

Theo www.scirp.org- PT

Từ khóa: mở cửa thị trường, lúa gạo, Hàn Quốc, WTO, thương mại, nhập khẩu, thuế quan

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Tiếp cận thị trường

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien

Xem nhiều nhất


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Lượt truy cập

008736243
Go to top