Công ty cho thuê sân khấu tổ chức sự kiện uy tín tại Hà Nội. Công ty cho thuê backdrop uy tín tại Hà Nội - nhiều mẫu mã đẹp. Dịch vụ chữa tắc tia sữa tại nhà, cam kết hiệu quả 100%. Công ty cung cấp, cho Thuê người đại diện cưới hỏi toàn quốc.

Menu
Hội nhập và phát triểnKinh tế tuần hoàn: kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Kinh tế tuần hoàn: kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

kinh te tuan hoan

Hoạt động kinh tế của nhiều nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, cho đến nay vẫn chủ yếu dựa vào cách tiếp cận truyền thống của kinh tế tuyến tính. Đây là nguyên nhân chính dẫn đến việc sử dụng tài nguyên không hiệu quả và gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Việt Nam đang phát triển nền kinh tế tuần hoàn (KTTH), nhằm hợp tác với cộng đồng quốc tế trong việc giải quyết vấn đề toàn cầu này và thách thức giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường. Nghiên cứu này góp phần nhận thức rõ hơn về tình trạng cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng; Vai trò quan trọng của KTTH; Kinh nghiệm thực tiễn của một số nước trong việc tạo ra mô hình KTTH để phát triển xanh bền vững nhằm cung cấp các giải pháp hữu ích cho việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội.

1. Đặt vấn đề

Sự phát triển kinh tế trong những thập kỷ qua giúp chất lượng cuộc sống của con người được nâng cao, nhưng cũng đồng thời làm suy kiệt tài nguyên thiên nhiên, phá vỡ cân bằng sinh thái, tổn hại đến môi trường. Thống kê của Chương trình Môi trường Liên Hợp quốc (UNEP) cho thấy, lượng tài nguyên mà con người khai thác vào năm 2017 đã tăng gấp 3,4 lần so với 50 năm trước [1]. Theo nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới, tỷ lệ phát sinh chất thải rắn sinh hoạt trung bình toàn cầu khoảng 0,74 kg/người/ngày, trong đó ở quốc gia thấp nhất là 0,11 kg/người/ngày, cao nhất là 4,54 kg/người/ngày. Năm 2016, ước tính tổng khối lượng các loại chất thải rắn có thể vào khoảng 7-10 tỷ tấn/năm. Dự báo chất thải rắn đô thị sẽ tăng lên 2,59 tỷ tấn năm 2030 và 3,4 tỷ tấn năm 2050, trong đó tốc độ tăng nhanh nhất ở các khu vực có nền kinh tế đang phát triển ở châu Phi, Nam Á và Trung Đông [2].

Theo công bố của Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF), khoảng 50% lượng phát thải khí nhà kính hiện tại trên thế giới là do khai thác và chế biến tài nguyên thiên nhiên, với nhu cầu về nguyên liệu thô theo kịch bản bình thường được dự đoán sẽ tăng gấp 2 lần vào năm 2050. Hiện nay, chỉ có 9% nền kinh tế toàn cầu là KTTH, trong khi giá trị của nó được ước tính sẽ tăng lên 4,5 nghìn tỷ đô la, tạo ra một cơ hội tăng trưởng toàn cầu đáng kể trong thập kỷ tới [3].

Như vậy, KTTH đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển nền kinh tế bền vững, đặc biệt là đối với Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa từ nước đang phát triển với nền công nghiệp có trình độ công nghệ chủ yếu là thấp và lạc hậu. Tuy nhiên, vấn đề KTTH chưa được nghiên cứu sâu và chưa có bước phát triển cần thiết tại Việt Nam trong thời gian qua. Nhận thức về phát triển kinh tế bền vững với môi trường, trong đó nội dung về KTTH ở Việt Nam chỉ mới bắt đầu được thể hiện trong một số các chiến lược, chính sách phát triển đất nước trong giai đoạn những năm gần đây. Trong bài báo này, kinh nghiệm các nước trên thế giới đang và đã thực hiện thành công các giải pháp về KTTH được trình bày dưới dạng so sánh và phân tích những điểm chung và khác nhau trong chính sách kiểm soát chất thải và khuyến khích KTTH, từ đó đưa ra các gợi ý chính sách phù hợp với sự phát triển của Việt Nam.

2. Khái niệm và một số nội dung về kinh tế tuần hoàn

Kinh tế tuần hoàn (KTTH) xuất hiện vào thế kỉ 18, được Francois Quesnay và các nhà khoa học Pháp thuộc trường phái đề cao nông nghiệp đề cập đến trong kinh tế học như chuỗi cung ứng sơ khai khép kín, khẳng định rằng các hộ gia đình cung cấp đầu vào cho các công ty khu vực tư nhân và các công ty cung cấp đầu ra mà các hộ gia đình sử dụng làm đầu vào [4]. Ngay từ năm 1966, Boulding cho rằng, vì sự tồn tại của mình loài người trong thời gian qua đã sử dụng lãng phí tài nguyên thiên nhiên, làm phát thải khí độc hại và ô nhiễm môi trường sống của chính mình. Boulding kết luận, một hệ thống KTTH là cần thiết để duy trì sự tồn tại bền vững của con người và kêu gọi các quốc gia chung tay bảo vệ ngôi nhà chung là trái đất [5].

Tuy nhiên, KTTH được biết đến nhiều nhất trong nghiên cứu của Stahel và Ready (1976), theo đó, một nền kinh tế với vòng sản phẩm hoàn toàn khép kín, ưu tiên tái sử dụng, ưu tiên sửa chữa và tái sản xuất hàng hóa hơn là sản xuất hàng hóa mới sẽ có tác động tích cực trong tạo việc làm, cạnh tranh kinh tế, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường [6]. Quan điểm này mang tính bước ngoặt ở thời kỳ đó, xác định nội dung của KTTH. Những năm sau, khái niệm KTTH tiếp tục được trải qua nhiều bước thay đổi và hoàn thiện hơn. Tổ chức Phát triển công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO) năm 2017 coi KTTH “là một cách để tạo ra giá trị và hướng tới mục tiêu cao nhất là sự thịnh vượng; nó hoạt động bằng cách kéo dài vòng đời sản phẩm thông qua việc cải tiến thiết kế và bảo dưỡng, chuyển chất thải từ cuối chuỗi cung ứng trở lại điểm đầu… qua đó, sử dụng các tài nguyên hiệu quả hơn bằng cách sử dụng nhiều lần chứ không chỉ một lần” [7].

Những quy trình chính của KTTH, theo Vasileios Rizos và cộng sự [8], là: (1) Sử dụng tối thiểu nguồn lực chính thông qua tái chế, sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên, vật liệu và các nguồn năng lượng tái tạo; (2) Duy trì những giá trị cao nhất của vật liệu và chính sản phẩm thông qua hoạt động tái sản xuất, tân trang và tái sử dụng các sản phẩm và linh kiện, tăng tuổi thọ sản phẩm; (3) Thay đổi và chia sẻ mô hình tiêu dùng sản phẩm và dịch vụ. Những quy trình này phản ánh nội dung của KTTH trong quan hệ sản xuất và tiêu dùng.

Nếu xét KTTH như một hệ thống sản xuất tái tạo (regeneration) và khôi phục (restoration), thông qua hoạt động đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp (DN), nó bao hàm 3 nguyên tắc cơ bản, gồm: (a) tối ưu hóa việc sử dụng năng lượng và nguyên vật liệu, giảm thiểu chất thải; (b) tuân thủ các chu kỳ tự nhiên và thiết kế, chú trọng chu kỳ sinh học và chu kỳ kỹ thuật nhằm mục đích tối ưu hóa sản lượng tài nguyên bằng cách sử dụng vật liệu và sản phẩm luân chuyển ở mức hữu ích cao nhất, tối thiểu hóa các ngoại ứng tiêu cực thông qua thiết kế sản xuất (thiết kế mẫu sản phẩm, thiết kế quy trình giảm phát thải, ô nhiễm); (c) sử dụng năng lượng tái tạo [9]. Các nguyên tắc của KTTH, tùy vào quan điểm và lĩnh vực nghiên cứu và mục tiêu cần đạt được, còn được mô tả như nguyên tắc đầu vào, đầu ra của sản xuất.

3. Thực trạng về ô nhiễm không khí và chất thải rắn ở Việt Nam

3.1. Về ô nhiễm không khí

Ô nhiễm không khí đe dọa hầu như toàn bộ cư dân sống trong những thành phố lớn tại các nước đang phát triển. Ở nước ta hiện khó có thể tìm thấy những số liệu thống kê tổng quát được công bố chính thức về tình trạng ô nhiễm không khí bởi phát thải khí độc hại do hoạt động sản xuất và sinh hoạt gây ra, nhưng phát thải khí độc hại là rất lớn. Ví dụ ở tỉnh Bình Dương năm 2015 thống kê cho thấy mỗi ngày trên địa bàn tỉnh có gần 65.000 m3 nước thải và 5.128 tấn chất thải rắn (CTR); lượng khí thải lớn bình quân mỗi năm như bụi: 32.078 tấn, SO2: 349 tấn, CO: 8.910 tấn được thải ra từ hoạt động của các khu công nghiệp (KCN) [10].

3.2. Về chất thải rắn

Theo Báo cáo môi trường quốc gia 2017 dự báo ước tính tổng phát thải CTR từ hoạt động xây dựng của Khu kinh tế trọng điểm miền Bắc (Hà Nội, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Quảng Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng) năm 2020 sẽ vào khoảng 3.900 tấn/ngày và lên đến 6.420 tấn/ngày vào năm 2030; tổng phát thải CTR từ các KCN năm 2016 đạt khoảng 8,1 triệu tấn/năm;  từ hoạt động khai thác than khoảng 4,6 tỷ m3/năm; từ hoạt động nông nghiệp, ước tính mỗi năm khu vực nông thôn phát sinh hơn 14.000 tấn bao bì hóa chất bảo vệ thực vật, phân bón các loại, 76 triệu tấn rơm rạ và khoảng 47 triệu tấn chất thải chăn nuôi; CTR y tế trung bình 100-140 tấn ngày (năm 2011), v.v.[11, 47-52]. Đó là chưa kể khối lượng vô cùng lớn CTR trong công nghiệp khai thác và chế biến khác.

Cùng với sự gia tăng dân số, quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ, chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) đang gia tăng cả về khối lượng và chủng loại. Báo cáo Hiện trạng môi trường quốc gia năm 2019 của Bộ Tài nguyên và Môi trường cho thấy sự gia tăng nhanh chóng loại chất thải sinh hoạt này.

Bảng 1. Khối lượng CTRSH phát sinh tại khu vực thành thị và nông thôn (theo vùng, 2019)

 

Vùng

Nông thôn Thành thị
Khối lượng phát sinh (tấn/ngày) Khối lượng phát sinh (tấn/năm) Khối lượng phát sinh (tấn/ngày) Khối lượng phát sinh (tấn/năm)
Đồng bằng sông Hồng 7.629 2.784.494 8.466 3.089.926
Trung du và miền núi phía Bắc 2.949 1.076.428 2.74 1.000.184
Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung 7.371 2.690.517 6.717 2.451.606
Tây Nguyên 1.443 526.586 1.485 542.098
Đông Nam Bộ 3.150 1.149.918 12.639 4.613.290
Đồng bằng sông Cửu Long 5.852 2.135.925 3.577 1.305.488
Tổng 28.394 10.363.868 35.624 13.002.592

Nguồn: Bộ TNMT, [12]

Chất thải các loại tác động đến môi trường, gây ô nhiễm môi trường đất, nước mặt, nước ngầm do nước rỉ rác với nhiều thành phần kim loại nặng và chất nguy hại không xử lý đạt yêu cầu theo quy định, khí ga sinh ra do phân hủy rác thải được chôn lấp,...

4. Kinh nghiệm của một số nước

Kinh nghiệm các nước trong vấn đề khuyến khích KTTH được các nhà nghiên cứu Việt Nam như Trương Thị Mỹ Nhân [13], Nguyễn Hoàng Nam và Nguyễn Trọng Hạnh [14] giới thiệu ở các góc độ nghiên cứu khác nhau. Phương pháp tiếp cận nghiên cứu các bài học kinh nghiệm nước ngoài mà nhóm tác giả sử dụng trong nghiên cứu này là: chọn nước điển hình, trong đó có nước đang phát triển và phát thải nhiều như Trung Quốc, tổng hợp và liệt kê so sánh những biện pháp, chính sách và phương pháp thực hiện chính sách khuyến khích KTTH, bảo vệ môi trường.

Bảng 2. Bảng so sánh kinh nghiệm thực hiện giữa các nước

Kinh nghiệm áp dụng Đức Hà Lan Pháp Canada Hoa Kỳ Nhật Bản Trung Quốc Hàn Quốc Đài Loan Singa-pore Úc

Thiết kế

(Trách nhiệm nhà sản xuất ERP, thân thiện môi trường)

X X X X X X X X X X X

Sản xuất

(tái sử dụng, thu hồi sản phẩm)

X X X X X X X - X - X

Tiêu dùng

(Tiêu dùng xanh, Thông tin cho người tiêu dùng

X X X X X X X - - X X

Quản lý chất thải

(cấm chôn lấp, thu phí rác thải, đô thị xanh, khu công nghiệp)

X - X X X X X X X X X
Quản lý rác thải biển - - - X - - - - X - -
Nâng cao nhận thức - - - X - X - X - X -
Thuế năng lượng X - - - - - - - X - -
Mô hình kinh doanh - - - - X - - - X - -
Chia sẻ sử dụng - - - - X - - - - X -
Cung cấp tiện ích ảo - - - - X - - - - - -
Năng lượng sinh khối - X - - - - - - X - -

Nguồn: Tác giả tổng hợp

Bảng 3. Kinh nghiệm thực hiện mô hình KTTH của các nước điển hình

Nước Kinh nghiệm Cách tiếp cận Đơn vị thực hiện
Đức Quản lý chất thải và chu trình khép kín

Từ trên xuống

(Top - down)

Cá nhân, DN,

Hành chính quốc gia

Giảm thải khí thải giao thông
Trách nhiệm của nhà sản xuất (ERP)
Pháp

Kế hoạch 4 lộ trình và 50 mục tiêu

(Sản xuất, tiêu dùng, quản lý chất thải, hành vi xã hội)

Từ trên xuống

(Top - down)

Cá nhân, DN,

Chính phủ

Hà Lan Thang Lansink Từ dưới lên (bottom - up)

DN, Cá nhân,

Địa phương,Chính phủ

Chương trình KTTH 2050
Mỹ Ban hành chiến lược “Zero waste”  Cách tiếp cận dựa vào thị trường (Market Based Approaches - MBA)

DN, Cá nhân

Địa phương, Chính phủ

Nguyên tắc Kinh tế Tuần hoàn
Canada Thành lập Hội đồng không chất thải quốc gia năm 2013

 Từ trên xuống

(Top - down)

DN, Địa phương, Chính phủ
Chiến lược quốc gia về Không chất thải nhựa (2018)
Nhật Bản Xã hội dựa trên tái chế chia thành 3 giai đoạn

Từ trên xuống

(Top - down)

DN, Khu công nghiệp, Xã hội
Hàn Quốc Nhận diện tài nguyên tuần hoàn

Từ trên xuống

(Top - down)

Gia đình, DN

Địa phương, Chính Phủ

Quản lý hiệu suất tuần hoàn tài nguyên
Đánh giá tính khả dụng của chu kỳ tuần hoàn
Phí xử lý chất thải
Đài Loan Chương trình Quản lý Chất thải Công nghiệp Quốc gia

Từ trên xuống

(Top - down)

Cộng đồng dân cư

DN tái chế và thu gom, Chính quyền địa phương, Chính phủ

Chương trình tái chế 4 trong 1
Chương trình công nghiệp đổi mới 5+2
Trung Quốc Sản xuất sạch

Từ trên xuống

(Top - down)

Theo chiều dọc: vi mô, vĩ mô, trung bình
Thông tư kinh tế Theo chiều ngang: liên kết giữa các cơ sở hạ tầng, môi trường và hệ thống tiêu dùng xã hội
Singapore Kế hoạch hành động về biến đổi khí hậu

Từ trên xuống

(Top - down)

Chính phủ

DN

Cá nhân

Kế hoạch tổng thể về không chất thải
Khung báo cáo bắt buộc đối với Bao bì (bao gồm cả chất dẻo) Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR) đối với rác thải điện tử
Các quy định bắt buộc về phân loại và xử lý chất thải thực phẩm
Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR) đối với (chất thải nhựa và bao bì)
Úc Kế hoạch Thu hồi Tài nguyên và Chất thải 2015–2018 (Thành phố Melbourne)

Từ dưới lên

(bottom - up

Theo chiều dọc: vi mô, vĩ mô, trung bình

Theo chiều ngang: liên kết giữa các cơ sở hạ tầng, môi trường và hệ thống tiêu dùng xã hội

Hệ thống xử lý chất thải thực phẩm (Đại học Jame Cook)
Báo cáo về những lợi ích tiềm năng của nền kinh tế tuần hoàn (Nam Úc)
Xây dựng một cơ sở chuyển đổi chất thải thành năng lượng mới (Tây Úc)
Kế hoạch Cơ sở hạ tầng Phục hồi tài nguyên và chất thải (Sustainability Victoria)

Nguồn: Tác giả tự tổng hợp

Bảng 2 và 3 cho thấy, mặc dù có những cách tiếp cận khác nhau,nhưng tựu chung các nước vẫn thực hiện KTTH theo quy trình 4 giai đoạn: (1) Sản xuất (bao gồm thiết kế và thực hiện sản xuất), (2) Tiêu dùng, (3) Quản lý chất thải và (4) Chuyển từ chất thải thành tài nguyên. 

5. Một số định hướng phát triển kinh tế tuần hoàn tại Việt Nam

Để thực hiện KTTH phù hợp với xu hướng chung của thế giới, Việt Nam sẽ cần thực hiện đồng bộ các giải pháp từ nâng cao nhận thức đến hoàn thiện thể chế và tổ chức thực hiện. Bởi theo kinh nghiệm các nước nêu trong Bảng 2 và 3, KTTH hiện nay đã phát triển và không chỉ dừng lại ở việc xem tận dụng vật liệu, mà được xem xét toàn diện theo 4 giai đoạn như trình bày ở trên. Từ thực trạng gia tăng chất thải tại Việt Nam và các phân tích dựa trên kinh nghiệm quốc tế ở trên, nhóm nghiên cứu đề xuất một số gợi ý chính sách nhằm thúc đẩy thực hiện KTTH tại Việt Nam.

Thứ nhất, hoàn thiện hành lang pháp lý phục vụ cho phát triển nền KTTH. Theo đó, cần sửa đổi, bổ sung Luật Bảo vệ môi trường, quy định trách nhiệm cụ thể của nhà sản xuất, nhà phân phối trong việc thu hồi, phân loại và tái chế hoặc chi trả chi phí xử lý các sản phẩm thải bỏ dựa trên số lượng sản phẩm bán ra trên thị trường; ban hành các quy chuẩn, tiêu chuẩn về công nghệ, thúc đẩy phát triển thị trường trao đổi sản phẩm phụ, sản phẩm thải bỏ để kết nối chuỗi giữa thải bỏ - tái chế - tái sử dụng để rác thải, chất thải trở thành tài nguyên thứ cấp trong hệ thống vòng kín của chu trình sản xuất mới; quản lý dự án theo vòng đời; thiết lập lộ trình xây dựng và áp dụng quy chuẩn, tiêu chuẩn về môi trường tương đương với nhóm các nước tiên tiến trong khu vực.

Thứ hai, cần có chính sách khuyến khích hình thành, phát triển các mô hình KTTH; hoàn thiện và ban hành các cơ chế chính sách ưu đãi, hỗ trợ thúc đẩy công nghiệp và công nghệ môi trường, trong đó có công nghiệp tái chế; DN phải là động lực trung tâm, Nhà nước đóng vai trò kiến tạo, các tổ chức và từng người dân tham gia thực hiện. Việt Nam có thể cân nhắc đưa cả hai cách tiếp cận thực hiện KTTH của quốc tế vào lộ trình của mình, đó là: (i) cách tiếp cận theo nhóm ngành, sản phẩm, nguyên liệu hoặc vật liệu (Group of sectors, products, materials and substances) - có thể gọi tắt là tiếp cận theo loại vật liệu; (ii) cách tiếp cận theo quy mô kinh tế (Systemic economy-wide implementation): thành lập các không gian địa lý như KCN, cụm công nghiệp, các thành phố kiểu mẫu, những hoạt động kinh doanh và sản xuất trong các không gian này được thiết kế sao cho kết nối với nhau thành các vòng tuần hoàn, sau đó nhân rộng các mô hình thành công.  

Thứ ba, xây dựng mô hình tăng trưởng kinh tế chiều sâu, sử dụng hiệu quả các nguồn lực đầu vào, áp dụng khoa học công nghệ vào các ngành, đặc biệt là xử lý rác thải để tái tạo nguyên liệu mới; quy định lộ trình thay thế các nhiên liệu, sản phẩm sử dụng nguyên liệu nguy hại, sản phẩm sử dụng một lần bằng các nhiên liệu, nguyên liệu thân thiện với môi trường, sản phẩm sử dụng nhiều lần, kéo dài thời gian sử dụng hữu ích của sản phẩm.

Thứ tư, điều chỉnh quy hoạch năng lượng, giảm dần sự phụ thuộc vào các dạng năng lượng từ nhiên liệu hóa thạch, thủy điện; kiểm soát, thu hút có chọn lọc dự án đầu tư trên cơ sở xem xét các yếu tố về quy mô sản xuất, công nghệ sản xuất, kỹ thuật môi trường và vị trí thực hiện dự án; xây dựng lộ trình chuyển đổi công nghệ dựa trên các tiêu chí tiết kiệm hiệu quả năng lượng, giảm thiểu chất thải.

Thứ năm, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về KTTH. Đây là cơ sở dữ liệu quan trọng để phục vụ cho việc quản lý và điều chỉnh việc thực hiện KTTH. Thực tế là các nước hàng đầu về KTTH trên thế giới đều có hệ thống cơ sở dữ liệu rất tốt về KTTH, trong khi đó ngay cả những dữ liệu cơ bản như ô nhiễm và tỉ lệ chế chất thải rắn qua các năm thì Việt Nam vẫn chưa thống kê được.

Thứ sáu, thực hiện KTTH cần gắn liền với phát triển công nghệ, kinh tế số và cách mạng công nghiệp 4.0. Đổi mới công nghệ là cốt lõi, là yếu tố quan trọng quyết định thành công khi áp dụng mô hình KTTH.

Thứ bảy, xây dựng Chương trình giáo dục phổ cập kiến thức KTTH và tiêu dùng thông minh, nhằm nâng cao nhận thức mọi người về trách nhiệm của họ đối với các sản phẩm trong suốt vòng đời của chúng.

6. Kết luận

Chuyển dịch từ kinh tế tuyến tính sang KTTH đang là xu thế chung của cộng đồng thế giới và Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế đó. Đó là cách tốt nhất để phá vỡ mối liên hệ lâu nay giữa tăng trưởng kinh tế và các ảnh hưởng tiêu cực tới cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm và suy thoái môi trường, hay một cách khác, không còn phải đánh đổi giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, thực hiện được đồng thời nhiều mục tiêu của phát triển bền vững. Để thực hiện được định hướng này đòi hỏi phải có sự nỗ lực của mọi thành phần trong xã hội, đặc biệt DN là động lực trung tâm, nhà nước đóng vai trò kiến tạo, dẫn dắt và cộng đồng tham gia thực hiện để thay đổi cả về nhận thức và hành vi của toàn xã hội.

NGUYỄN KHẮC HẢI, DƯƠNG LÂM BẢO LINH, NGÔ THỊ THU HÀ (Sinh viên chuyên ngành quản lý công nghiệp, đại học Bách khoa Hà Nội) - TRẦN THỊ BÍCH NGỌC- PGS. TS (Viện Kinh tế và Quản lý, đại học Bách khoa Hà Nội)

Nguồn: Tạp chí Công Thương

Từ khóa: kinh tế tuần hoàn

Hội nhập và phát triển

Menu

Chuyên mục RCEP

Menu

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Link Website

Lượt truy cập

006034470
Go to top