Công ty cho thuê sân khấu tổ chức sự kiện uy tín tại Hà Nội. Công ty cho thuê backdrop uy tín tại Hà Nội - nhiều mẫu mã đẹp. Dịch vụ chữa tắc tia sữa tại nhà, cam kết hiệu quả 100%. Công ty cung cấp, cho Thuê người đại diện cưới hỏi toàn quốc.

Menu
Phân tích - Bình luậnHội nhập kinh tế quốc tếKích thích tăng trưởng: Các hiệp định thương mại tự do có phải là một giải pháp?

Kích thích tăng trưởng: Các hiệp định thương mại tự do có phải là một giải pháp?

1 403

Ấn Độ cần khẩn trương khởi động lại hành trình FTA của mình và nhanh chóng mở rộng quy mô, hãy xem kinh nghiệm trong thời gian qua như vừa là bài học vừa là cảnh báo. Việc ký kết hiệp định Ấn Độ-EU nên được ưu tiên.

Việc ký kết Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) của 15 quốc gia Châu Á - Thái Bình Dương, chiếm 30% tổng kim ngạch thương mại toàn cầu, vào cuối năm ngoái, và sự có hiệu lực của Khu vực Thương mại Tự do Lục địa Châu Phi (AfCFTA) bao gồm 54 quốc gia vào tháng 01 năm 2021, đã làm sống lại câu chuyện về các hiệp định thương mại tự do (FTA). Ở một diễn biến song song, phong trào “giành lại quyền kiểm soát” đằng sau quá trình Brexit đã nêu bật làn sóng phản ứng dữ dội chống lại toàn cầu hóa và thương mại tự do. Milton Friedman - người đoạt giải Nobel - cho rằng giới chuyên gia kinh tế gần như nhất trí về lợi ích của tự do thương mại. Tuy nhiên, các hành động chính trị không phải lúc nào cũng dựa trên sự hợp lý về mặt kinh tế. Cụ thể như Ấn Độ, quốc gia trong 5 năm qua đã tăng thuế đối với 1/4 tổng số sản phẩm được giao dịch, hay là Mỹ, quốc gia thúc đẩy kế hoạch Mua hàng hóa của Mỹ (Buy American), làm cho chủ nghĩa bảo hộ trở nên phổ biến.

Thương mại, một trong những động lực của tăng trưởng kinh tế, đã không phát huy tác dụng đối với Ấn Độ trong thập kỷ qua. Xuất khẩu hàng hóa - tạo ra việc làm trong lĩnh vực sản xuất, đã không tăng trưởng, vẫn loanh quanh ở mức khoảng 300 tỷ USD. Đồng thời, nhập khẩu hàng hóa - tạo ra việc làm trong các lĩnh vực dịch vụ như vận tải và hậu cần, cung cấp những sản phẩm có giá trị và nhiều sự lựa chọn cho người tiêu dùng, và nguồn nguyên liệu đầu vào giá rẻ cho sản xuất xuất khẩu của Ấn Độ - vẫn dậm chân tại chỗ. Điều này càng trở nên khó khăn hơn khi Ấn Độ phải duy trì một lượng ngoại hối lớn mới giúp họ tận dụng một cách an toàn những lợi thế mà hàng nhập khẩu mang lại. Điểm đáng chú ý là thương mại của Ấn Độ tính theo tỷ lệ phần trăm GDP đã giảm mạnh từ 56% năm 2011 xuống còn 40% năm 2019, trong suốt giai đoạn mà Ấn Độ chưa ký bất kỳ FTA nào.

FTA là gì?

Các hiệp định thương mại tự do giữa hai hoặc nhiều quốc gia làm tăng thương mại bằng cách giảm thuế quan và hàng rào phi thuế quan đối với tất cả hoạt động thương mại cơ bản. Hiệp định cũng bao gồm thỏa thuận về các dịch vụ và các vấn đề phi thương mại như lĩnh vực đầu tư. Các FTA “tiêu chuẩn cao”, đang được Mỹ thúc đẩy mạnh mẽ, còn bao gồm các quy tắc về thương mại điện tử, sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn lao động và các biện pháp bảo vệ môi trường. Các hiệp định thương mại tự do (FTA) trở nên phổ biến vì thế giới mất kiên nhẫn với cách tiếp cận hướng đến đồng thuận của tất cả thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới. Ngày nay, bát mì FTA đã lên đến khoảng 500 hiệp định đan xen và chồng chéo nhau.

Hiệp định thương mại tự do toàn diện đầu tiên của Ấn Độ là vào năm 2005 với Singapore, một trung tâm xuất nhập khẩu với cơ chế thuế quan gần như bằng không. Ấn Độ đã giảm thuế đối với một loạt sản phẩm, nhưng lợi ích nhận lại rất ít. Theo Ấn Độ, có lẽ đó là cái giá mà họ phải trả để được gia nhập câu lạc bộ ASEAN + 6. Hiệp định thương mại tự do với ASEAN năm 2009 còn tệ hơn. Hiệp định chỉ thỏa thuận “giao dịch hàng hóa” với một số công ty sản xuất lớn, trong khi thế mạnh chính của Ấn Độ là dịch vụ, cuối cùng khiến cho nhiều ngành công nghiệp phải trả giá đắt. Hơn nữa, thiếu đi đòn bẩy đàm phán, Ấn Độ bị buộc phải chấp nhận hiệp định không mang nhiều lợi ích, chẳng hạn như Hiệp định Dịch vụ ASEAN.

Điều đáng ngạc nhiên là các giao dịch tốt hơn được thực hiện đối với các nền kinh tế mạnh hơn như Hàn Quốc và Nhật Bản. Các hiệp định thương mại tự do FTA năm 2009 và 2011 lần lượt nâng cao mức thâm hụt thương mại của Ấn Độ với các quốc gia này, nhưng bù lại, năng lực cạnh tranh của Ấn Độ trong một số lĩnh vực quan trọng cũng tăng. Ví dụ như ngành sản xuất ô tô. Nhật Bản và Hàn Quốc đã đàm phán đạt được mức thuế thấp hơn đối với nguyên liệu thép đặc biệt của họ. Đầu tư vào sản xuất ô tô ở Ấn Độ cũng được tăng lên, nhờ các biện pháp thúc đẩy và bảo hộ mạnh mẽ được tích hợp trong các FTA. Các hãng sản xuất ô tô của Nhật Bản và Hàn Quốc đã mở rộng các nhà máy ở Ấn Độ để đáp ứng nhu cầu nội địa khổng lồ và bằng cách tận dụng nguồn lao động có kỹ năng giá rẻ, đã giúp biến Ấn Độ thành một trung tâm sản xuất ô tô nhỏ. Sau đó, với lợi thế về quy mô, họ đã thâm nhập vào thị trường xuất khẩu cực kỳ cạnh tranh.

Đàm phán các FTA có thể là một thách thức vì nó liên quan đến yếu tố nhượng bộ nhau, có qua có lại. Vì lợi ích của các công ty thương mại chứ không phải các quốc gia, một số được lợi trong khi những công ty khác bị thua thiệt. Đó là bản chất của cuộc chơi! Các nhà đàm phán có thể tập trung vào các lĩnh vực thế mạnh của quốc gia họ trong khi bỏ qua những lĩnh vực không phải là trọng tâm. Điều này đã gây tranh cãi khi các thỏa thuận tạo ra các lợi thế không cân bằng giữa các lĩnh vực dẫn đến sự phản đối mạnh mẽ.

Tuy nhiên, các FTA có thể giúp Ấn Độ tiếp cận đáng kể vào các thị trường lớn với mức thuế ưu đãi đối với các sản phẩm mà Ấn Độ có khả năng cạnh tranh. Các lĩnh vực thâm dụng lao động như sản xuất ô tô, dệt may, thủ công mỹ nghệ, da, dược phẩm, điện thắp sáng, một số sản phẩm hóa chất, nhiều mặt hàng nông nghiệp, đồ trang sức và các dịch vụ chuyên nghiệp, đều được lợi. Hơn nữa, FTA có thể tạo ra nhiều việc làm nhờ phát triển xuất khẩu.

Trong lĩnh vực hàng dệt may, các đối thủ cạnh tranh của Ấn Độ như Việt Nam và Bangladesh được hưởng quyền tiếp cận miễn thuế vào các thị trường rộng lớn như EU và Hoa Kỳ nhờ vào các thỏa thuận FTA hoặc nhờ vào trạng thái quốc gia đang phát triển. Việc xóa bỏ thuế quan theo các FTA có thể cung cấp cho các nhà xuất khẩu của Ấn Độ một sân chơi bình đẳng và ngăn chặn sự xói mòn thị phần và lợi nhuận.

Định hướng tiếp theo cho tương lai là gì?

Việc giảm thuế quan cho sản phẩm trung gian có thể nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa thành phẩm. Và điều này nên được thực hiện thông qua các FTA. Ấn Độ cần khẩn trương khởi động lại các cuộc đàm phán FTA của mình và nhanh chóng mở rộng quy mô, hãy xem những kinh nghiệm trong thời gian qua vừa là những bài học vừa là cảnh báo cho định hướng tương lai. Việc ký kết Hiệp định giữa Ấn Độ và EU nên được ưu tiên. Các cuộc đàm phán nên xoay quanh sự khác biệt về thuế quan của Ấn Độ đối với mặt hàng rượu vang, rượu whisky Scotch và các dòng sản phẩm ô tô cao cấp, và sự không nhượng bộ của EU trong việc cấp hạn ngạch riêng cho Ấn Độ đối với chuyên gia Công nghệ thông tin. Nhưng lý do thực sự khiến cho đàm phán giữa Ấn Độ và EU sụp đổ vào năm 2015 là do Ấn Độ khăng khăng đòi miễm phí đối với các luồng dữ liệu xuyên biên giới, điều mà EU cho rằng không phù hợp với luật bảo mật của mình. Trong kỷ nguyên của trí tuệ nhân tạo, dữ liệu là nguồn tài nguyên mới. Cuộc cách mạng công nghệ tạo ra cơ hội kiếm tiền từ khai thác dữ liệu của Ấn Độ, từ đó đã làm thay đổi quan điểm của Ấn Độ về vấn đề này, giúp xóa bỏ một trở ngại chính của quá trình đàm phán.

FTA đối với Anh cũng dễ dàng đạt được khi xét đến lợi ích bổ sung trong dịch vụ và mong muốn của Vương quốc Anh nhanh chóng đa dạng hóa thương mại để giảm bớt tác động của Brexit. Các cuộc họp giữa các nhà lãnh đạo dẫn tới Hội nghị thượng đỉnh G7 ở Anh vào tháng 6 năm 2021 mang đến cơ hội để chuẩn bị và củng cố tầm nhìn cho thỏa thuận này. Hợp tác với Liên minh Kinh tế Á-Âu (EAEU), khu vực bao gồm Nga và nhiều nước Cộng hòa thuộc Liên Xô trước đây, cũng là một ưu tiên cao khác. EAEU rất giàu tài nguyên năng lượng, có nhu cầu về dược phẩm, hàng dệt may và xuất khẩu nông nghiệp và có mối quan hệ hữu hảo truyền thống đối với Ấn Độ. Ngoài ra, Châu Phi là một thị trường lớn đang phát triển khác, và Ấn Độ nên tận dụng sự e ngại của châu lục này về sự thống trị của Trung Quốc và đi đầu trong việc bắt đầu đối thoại với AfCFTA.

Điều quan trọng không kém đối với Ấn Độ là lập ra danh sách các đối tác FTA nên tránh. Ví dụ điển hình là Trung Quốc, công xưởng của thế giới, với những khoản trợ cấp khổng lồ và quy mô sản xuất hàng loạt. Chính phủ Ấn Độ đã khôn ngoan khi từ bỏ RCEP vì Hiệp định này đề xuất loại bỏ thuế quan đối với 80% thương mại, có thể sẽ phá hủy ngành công nghiệp nội địa của Ấn Độ. Mỹ, nước luôn kiên định ràng buộc các quy định về thương mại kỹ thuật số và sở hữu trí tuệ và tham vọng tiếp cận thị trường Ấn Độ, cũng là một đối tác cần tránh đàm phán FTA. Nhiều chuyên gia đàm phán có kinh nghiệm cho rằng FTA với Mỹ giống như thỏa thuận cấp phép phần mềm của một trang web. Cuối cùng, Ấn Độ sẽ phải gác lại tất cả các mối bận tâm của mình và đặt bút ký “Tôi đồng ý’.

Ngoại trừ các nước trên, đối với phần còn lại của thế giới, Ấn Độ đã sẵn sàng.

Source: Financial Express

Từ khoá: lợi ích bổ sung, đa dạng hoá thương mại, AfCFTA, thoả thuận cấp phép

Chuyên mục RCEP

Menu

Phân tích - Bình luận

Menu

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Link Website

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

005976188
Go to top