Công ty cho thuê sân khấu tổ chức sự kiện uy tín tại Hà Nội. Công ty cho thuê backdrop uy tín tại Hà Nội - nhiều mẫu mã đẹp. Dịch vụ chữa tắc tia sữa tại nhà, cam kết hiệu quả 100%. Công ty cung cấp, cho Thuê người đại diện cưới hỏi toàn quốc.

Menu
Phân tích - Bình luậnHội nhập kinh tế quốc tếThương mại dưới thời của Donald Trump: Hãy làm cho toàn cầu hóa bao trùm nếu muốn giành lại ủng hộ cho mở cửa thị trường

Một hệ thống Luật sở hữu trí tuệ chặc chẽ là điều cần có trong một thế giới hội nhập

toancauhoa29032018

Người ta thường bàn luận nhiều về những tác động của toàn cầu hóa lên tình trạng bất bình đẳng thu nhập cá nhân. Tuy nhiên, họ lại dành rất ít sự quan tâm đến tác động của sự bất bình đẳng dưới góc độ cơ hội kinh doanh cho các doanh nghiệp trên thế giới. Bài nghiên cứu, “Những cải cách thể chế sẽ có lợi cho công ty nhỏ hay công ty Lớn: Quyền sở hữu trí tuệ và cách tiếp cận một Liên minh Quốc tế” (Do Institutional Reforms Benefit Strong or Weak Firms: Intellectual Property Rights and Access to International Alliances) đã tìm hiểu sâu hơn về vấn đề mà mọi người ít quan tâm này.

Bài nghiên cứu này được thực hiện nhằm mục đích tìm ra câu trả lời cho câu hỏi: Khi quá trình toàn cầu hóa mở cửa một nền kinh tế quốc gia, liệu nó sẽ có lợi hay có hại cho các doanh nghiệp địa phương, đặc biệt là những doanh nghiệp nhỏ? Bài viết được thực hiện dựa trên những nghiên cứu của giáo sư Exequiel Hernandez và nghiên cứu sinh Sarath Balachandran tại Trường kinh doanh Wharton thuộc Đại học Pennsylvania.

Mới đây, ông Hernandez đã có cuộc trò chuyện với đài Knowledge@Wharton về những khám phá của mình. Sau đây là nội dung cuộc trò chuyện đã được ghi lại.

Xin hãy kể cho chúng tôi nghe về bài nghiên cứu của ông? Mục tiêu của ông là gì khi thực hiện bài nghiên cứu này?

Hernandez: Mục tiêu tổng thể của chúng tôi là tìm ra đáp án cho những cuộc tranh luận về vấn đề: Đối với các quốc gia đang áp dụng những chính sách thúc đẩy nền kinh tế hội nhập vào thị trường toàn cầu, liệu quá trình toàn cầu hóa sẽ có lợi hay có hại cho các doanh nghiệp địa phương? Hiện tại, đây là một câu hỏi rất lớn và không thể được trả lời chỉ bằng một bài nghiên cứu. Vậy nên, trong dự án này, chúng tôi chỉ tập trung vào một góc nhỏ của vấn đề.

Chung tôi xem xét những nỗ lực mà các quốc gia đã tạo ra nhằm cải cách và hoàn thiện hệ thống luật sở hữu trí tuệ (IP) của nước họ [như một phần trong nỗ lực toàn cầu hóa của quốc gia]. Liệu điều này có giúp mở ra thêm nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp… để có thể thiết lập quan hệ dưới dạng liên minh hay đối tác với các công ty đến từ những quốc gia khác?

Chúng tôi đặc biệt quan tâm đến vấn đề ai sẽ được lợi nhiều hơn trong số các doanh nghiệp phương. Đó có phải là những doanh nghiệp đã có sẵn các mối quan hệ đối tác với các công ty nước ngoài? (chúng tôi sẽ gọi đây là nhóm những doanh nghiệp mạnh). Hay đó là những công ty vốn đã gặp khó khăn từ trước cả cuộc cải cách? (chúng tôi gọi đây là nhóm doanh nghiệp yếu). Tôi sẽ giải thích tại sao điều này lại quan trọng.

Trước hết, các quan hệ liên minh hay đối tác là yếu tố thực sự quan trọng đối với các doanh nghiệp ở bất kỳ quốc gia nào, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp từ những thị trường mới nổi với hệ thống pháp luật lỏng lẻo về sở hữu trí tuệ. Bởi vì các mối quan hệ này sẽ giúp doanh nghiệp thâm nhập vào thị trường nước ngoài để bán hàng hóa, và giúp doanh nghiệp tiếp cận được những loại kỹ thuật công nghệ mới và nguồn lực mới để nâng cao trình độ kinh doanh và chất lượng sản phẩm. Và do đó, quan hệ liên minh/đối tác giúp các doanh nghiệp trở nên mạnh hơn.

Lấy ví dụ, một công ty ở Chi-lê có thể dùng quan hệ đối tác với một công ty Mỹ để bán hàng tại thị trường Mỹ, và họ có thể phát triển những công nghệ hay sản phẩm mới từ những gì họ học được thông qua quan hệ đối tác ấy. Điều rõ ràng là công ty Chi-lê sẽ được hưởng lợi khi càng có thêm nhiều quan hệ đối tác, nhưng câu hỏi đặt ra là, một khi chính phủ Chi-lê cải thiện hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ của mình, thì người sẽ được hưởng lợi là những công ty mạnh ở Chi-lê hay là những công ty yếu?

Đây là một câu hỏi quan trọng, bởi vì sự bất bình đẳng không chỉ giữa cá nhân với nhau, mà chúng còn tồn tại giữa các doanh nghiệp. Ví dụ, chúng ta thường quan tâm nhiều đến một thị trường cạnh tranh lành mạnh, [và điều này không thể xảy ra nếu tồn tại một hoặc một số công ty thống trị cả nền kinh tế]… Trong một nền kinh tế, nơi mà chỉ một nhóm nhỏ các công ty có quyền kiểm soát những nguồn lực giá trị, chẳng hạn như các liên minh mà tôi vừa đề cập, thì điều này có thể có hại. Tất cả những điều này khiến cho hệ thống pháp luật trở nên cực kỳ quan trọng. Luật pháp được xem như một công cụ để cân bằng sân chơi cho các cá nhân lẫn các doanh nghiệp.

Tôi chỉ tò mò muốn biết, tại sao ông lại chọn quyền sở hữu trí tuệ làm đối tượng để nghiên cứu cho vấn đề này?

Hernandez: Có rất nhiều nhân tố thay đổi trong một quốc gia có thể góp phần vào quá trình toàn cầu hóa thị trường nước họ… Lý do mà chúng tôi chọn quyền sở hữu trí tuệ là vì chúng thực sự là một trong những rào cản quan trọng nhất đối với các doanh nghiệp và đối với quốc gia khi tham gia vào nền kinh tế toàn cầu.

Lấy ví dụ bạn là một công ty công nghệ ở Pháp, và bạn đang cân nhắc thiết lập quan hệ đối tác với một doanh nghiệp Ấn Độ hay Trung Quốc để bán sản phẩm của mình tại Trung Quốc hay Ấn Độ. Và nếu luật sở hữu trí tuệ của các quốc gia này quá lỏng lẻo, bạn sẽ phải lo ngại liệu những yếu tố làm nên giá trị công ty mình như công nghệ, thương hiệu hay nhãn hiệu công ty, có được bảo vệ. Giả sử, nếu đối tác Trung Quốc hay Ấn Độ của bạn làm một điều gì đó nhằm chiếm dụng hoặc gây hại cho tài sản vô hình của bạn, ai sẽ đứng ra phân xử cho bạn? Câu trả lời là bạn gần như không có ai để dựa vào nếu hệ thống luật sở hữu trí tuệ quá yếu.

Khảo sát đối với các doanh nghiệp đanh kinh doanh tại những nền kinh tế mới nổi cho thấy, vấn đề luật sở hữu trí tuệ lỏng lẻo thường là mối quan ngại số một khi họ hoạt động tại những thị trường này. Và vấn đề này càng trở nên rõ ràng khi các loại tài sản tạo nên giá trị khác biệt cho công ty là những tài sản vô hình – các loại công nghệ, thương hiệu, bí mật thương mại, v.v. Vậy nên chúng tôi nghĩ rằng, đối tượng mà mình chọn nghiên cứu không chỉ mang tính thực tế cao, mà còn rất là đúng thời điểm, như một cách để xem xét liệu luật sở hữu trí tuệ có giúp củng cố khả năng tiếp cận thị trường nước ngoài.

Trong bài viết của mình, ông đã đề cập đến một hiện tượng gọi là Hiệu ứng Matthew – một lý thuyết cho rằng những người giàu, bằng nguồn tài sản và các mối quan hệ của mình, sẽ trở nên giàu có hơn, trong khi người nghèo sẽ ngày càng nghèo hơn. Ông có thể cho chúng tôi biết rõ hơn về điều này?

Hernandez: Hiệu ứng Matthew [được đặt tên theo câu chuyện về Thánh Matthew trong Kinh thánh] là một hiện tượng được phát hiện ở rất nhiều lĩnh vực khác nhau. Trong lĩnh vực khoa học xã hội, khi một đối tượng được cho là đang sở hữu rất nhiều nguồn lực kinh tế - chẳng hạn như nguồn vốn hay các mối quan hệ xã hội hay những loại tài sản liên quan – thì sau một khoảng thời gian, đối tượng đó sẽ tích trữ thêm càng nhiều nguồn lực, với tốc độ nhanh hơn nhiều so với một đối tượng đang sỡ hữu ích nguồn lực hơn. Và điều này dẫn đến một sự phân bổ nguồn lực rất thiếu cân bằng. Vậy nên người giàu sẽ càng giàu hơn, và người nghèo sẽ càng nghèo hơn.

Bây giờ, chúng tôi áp lý thuyết này vào những nghiên cứu của mình, vì chúng tôi quan tâm đến việc liệu những thay đổi trong hệ thống luật sở hữu trí tuệ sẽ làm tăng cường hay suy yếu Hiệu ứng Matthew khi bàn về khả năng xây dựng được thêm nhiều quan hệ đối tác nước ngoài của các doanh nghiệp địa phương. Vậy nên, bạn có thể hình dung rằng, việc củng cố luật sở hữu trí tuệ có thể tạo ra hai kết quả đối lập nhau, và chúng ta chưa thể biết trước kết quả nào sẽ xảy ra.

Kết quả thứ nhất, hay là viễn cảnh thứ nhất, là nó sẽ thực sự làm tăng cường Hiệu ứng Matthew. Điều này nghĩa là những kẻ mạnh sẽ trở nên mạnh hơn, và trong trường hợp của chúng tôi, những công ty đã từng có sẵn các mối quan hệ đối tác quốc tế sẽ càng thiết lập thêm được nhiều mối quan hệ, nếu quốc gia họ củng cố luật sở hữu trí tuệ. Điều này xảy ra bởi vì các công ty này có năng lực tốt hơn, và họ đang cần có nhiều đối tác nước ngoài hơn, và một động lực như thế sẽ dẫn đến sự gia tăng bất bình đẳng giữa các công ty trong nền kinh tế, khi nói về khả năng xây dựng quan hệ với đối tác nước ngoài.

Kết quả thứ hai là một viễn cảnh đối lập, rằng Hiệu ứng Matthew sẽ trở nên suy yếu. Trong trường hợp này, các công ty vốn đang gặp khó khăn trong việc thiết lập quan hệ tối tác quốc tế sẽ được hưởng lợi nhiều nhất từ việc cải thiện luật sở hữu trí tuệ. Có lẽ là do họ không có nhiều danh tiếng hoặc các mối quan hệ sẵn có để thu hút đối tác nước ngoài, nên khi luật sở hữu trí tuệ được cải thiện, các đối tác nước ngoài sẽ có được một cơ chế bảo đảm, và giảm thiểu lo ngại khi tham gia vào liên minh với những công ty “yếu hơn” này. Và rõ ràng là một động lực như thế này sẽ dẫn đến sự giảm thiểu tình trạng bất bình đẳng, bởi vì sân chơi bây giờ sẽ trở nên cân bằng hơn.

Những giả thuyết chính của ông là gì, và ông đã lấy các nguồn dữ liệu từ đâu?

Hernandez: Chúng tôi thực sự không có một giả thuyết cụ thể nào trong vấn đề này. Thay vào đó, những gì chúng tôi có là một ý tưởng cho rằng, sẽ có hai viễn cảnh đối lập: Hiệu ứng Matthew sẽ trở nên mạnh hơn hoặc yếu hơn. Mục tiêu của chúng tôi thực sự chỉ là muốn biết liệu viễn cảnh nào trong hai cái trên sẽ xảy ra, bằng cách rà soát lại các dữ liệu.

Về vấn đề dữ liệu, chúng tôi đã quay lại khoảng 20 năm trước, vào những năm 1990. Và lý do khiến chúng tôi chọn giai đoạn này là vì đây là một thời kỳ mà toàn cầu hóa phát triển mạnh mẽ. Thực tế, những gì diễn ra trong giai đoạn này là nguồn cơn dẫn đến những cuộc tranh luận ngày nay [trong môi trường chính trị hiện tại của chúng ta]. Nhưng nó cũng là một giai đoạn của tiến trình tự do hóa, và nhiều quốc gia đã có những nỗ lực cụ thể nhầm củng cố hệ thống luật sở hữu trí tuệ, để giúp các công ty trong nước có thể tham gia vào thị trường quốc tế.

Vậy nên, những gì chúng tôi làm là xây dựng dữ liệu dựa trên một số nghiên cứu sẵn có trước đây, để xác định những quốc gia nào đã thực hiện nhiều cải cách đáng kể trong hệ thống luật sở hữu trí tuệ. Và chúng tôi đã xác định được 13 quốc gia có những cải thiện to lớn, đáng tin cậy trong giai đoạn từ năm 1991 đến 1999. Đó là những quốc gia như Chi-lê, Ấn Độ, Brazil, Argentina, Thái Lan.

Mặc dù những cải cách về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ (IP) của các nước này chưa đạt đến một trình độ mà chúng ta có thể gọi là lý tưởng, nhưng xét trong thời kỳ ấy, đây cũng là những bước tiến đáng kể. Sau khi xác định được 13 quốc gia, chúng tôi đã thu thập dữ liệu về tất cả các liên minh đối tác mà doanh nghiệp tại 13 quốc gia này thiết lập, kể cả trước và sau khi hệ thống luật IP được cải cách. Từ đó, chúng tôi có được một mô hình nghiên cứu đơn giản hơn, có thể xác định những thay đổi về số lượng và chất lượng các liên minh mà họ thiết lập với công ty nước ngoài sau khi luật IP được cải thiện, và so sánh với giai đoạn trước đó.

Ông đã phát hiện ra điều gì?

Hernandez: Về cơ bản, chúng tôi phát hiện ra rằng, sự cải thiện luật IP đã dẫn đến sự gia tăng đồng đều và đáng kể trong cả khối lượng và chất lượng các quan hệ đối tác nước ngoài được thiết lập tại 13 quốc gia. Tuy nhiên, một điều quan trọng hơn mà chúng tôi phát hiện được là, đối với những công ty mà trước đây có ít cơ hội tiếp cận các mối quan hệ này hơn, thì sự gia tăng về số lượng và chất lượng quan hệ hợp tác nước ngoài được biểu hiện mạnh mẽ hơn sau khi luật IP được cải cách.

Nói cách khác, lợi ích tạo ra là to lớn hơn cho những doanh nghiệp yếu, dẫn đến Hiệu ứng Matthew bị suy yếu, và tạo ra một sân chơi cân bằng hơn, dưới góc độ cơ hội tiếp cận các đối tác nước ngoài.

Ông đã đề cập đến cả chất lượng của các liên minh quốc tế này, chứ không chỉ là về số lượng. Ông có thể giải thích rõ hơn không? Làm cách nào để ông đánh giá chất lượng một liên minh, và tại sao điều đó lại quan trọng?

Hernandez: Nó rất quan trọng. Hãy tưởng tượng một viễn cảnh, nơi mà các doanh nghiệp yếu tiếp cận được nhiều đối tác nước ngoài hơn sau khi cải cách, nhưng họ lại không gặp được những đối tác như kỳ vọng – có thể là những đối tác thuộc những lĩnh vực kém phát triển về kỹ thuật. Đó không phải lợi lợi ích thực sự, đó chỉ là một sự gia tăng về số lượng, không phải chất lượng.

Chúng tôi cảm thấy rằng, điều quan trọng là phải xác định được liệu chất lượng các mối quan hệ cũng có tăng hay không, và nhóm doanh nghiệp nào thiết lập được các mối quan hệ có chất lượng cao hơn sau khi luật IP được cải cách. Về mặt đo lường, [chất lượng] luôn là một thuộc tính khó nắm bắt ở cấp độ doanh nghiệp. Vậy nên, chúng tôi đã sử dụng một số đặc trưng của quốc gia [mà công ty đối tác nước ngoài có trụ sở] làm thước đo chất lượng các đối tác nước ngoài mà doanh nghiệp nội địa có thể tiếp cận.    

Chúng tôi sử dụng ba thước đo. Thứ nhất là mức độ xuất khẩu công nghệ cao của một quốc gia. Thứ hai là số lượng các ấn phẩm về khoa học và kỹ thuật được phát hành tại nước đó. Điểm chung của hai thước đo này là nó phản ánh được trình độ kỹ thuật công nghệ của các công ty tại quốc gia đó, ít nhất là trên bình diện chung. Và thước đo thứ ba là độ đa dạng của các quốc gia mà tại đó doanh nghiệp có thể tìm ra đối tác cho mình. Thước đo này phản ánh khả năng tiếp cận nguồn kiến thức và ý tưởng đa dạng thông qua các liên minh mà những doanh nghiệp này thiết lập.

Bất kể là có sử dụng công cụ nào, chúng tôi cũng tìm thấy một vài điểm chung: Sự thay đổi trong hệ thống luật IP đã giúp các công ty tiếp cận được nhiều đối tác từ các quốc gia có trình độ cao hơn, và đối tác từ nhiều quốc gia [đa dạng hơn]. Một lần nữa, hiệu ứng này diễn ra mạnh nhất đối với nhóm các doanh nghiệp từng bị coi là “yếu” trong giai đoạn trước cải cách luật.

Ông có thể nói về các dạng liên minh khác nhau mà các công ty có thể tham gia?

Hernandez: Có phải bạn đang muốn hỏi về một đoạn trong bài nghiên cứu, ở phần mà chúng tôi muốn biết liệu việc cải cách luật IP có dẫn đến sự gia tăng khác nhau giữa các dạng liên minh riêng biệt của công ty mạnh và công ty yếu - giả định rằng các quan hệ hợp tác này là để thực hiện R&D, hoặc hợp tác để làm marketing hay sản xuất. Chung tôi không thực sự có bất kỳ giả thuyết nào cho vấn đề này; chúng tôi chỉ muốn biết liệu có sự khác biệt về tốc độ gia tăng giữa các dạng liên minh mạnh và yếu.

Kết quả là không có sự khác biệt nào cả, nghĩa là khả năng tiếp cận mọi dạng quan hệ đối tác của các doanh nghiệp yếu luôn tăng cao hơn so với các doanh nghiệp mạnh. Vậy nên, có vẻ như các doanh nghiệp nhỏ được phân bổ lợi ích đồng đều từ việc tiếp cận các mối quan hệ đối tác.

Một điều mà tôi nghĩ nó rất là thú vị trong bài viết của ông là: ông đã đề cập rằng những cải cách này không khiến cho những doanh nghiệp yếu chiếm mất phần lợi ích của doanh nghiệp mạnh. Ông có thể giải thích đôi chút về điều đó không?

Hernandez: Đây thực ra là một vấn đề rất quan trọng, bởi vì sẽ là sai lầm nếu chúng tôi diễn giải bài nghiên cứu của mình theo chiều hướng rằng các luật sở hữu trí tuệ, bằng một cách nào đó, đã làm cho các doanh nghiệp yếu trở nên mạnh hơn nhờ vào việc giành lấy lợi ích của những doanh nghiệp mạnh. Đó sẽ là một trò chơi có tổng bằng không – nền kinh tế không tạo ra giá trị tăng thêm, bởi vì bạn chỉ lấy của cải từ một người và chuyển qua cho người khác, như một dạng hiệu ứng Robin Hood (Lấy của người giàu chia cho người nghèo). Chúng tôi không nhận thấy có hiện tượng này.

Chúng tôi phát hiện ra rằng, các doanh nghiệp yếu được hưởng lợi nhiều hơn từ việc cải cách luật IP, ở một mức độ tương đối. Nghĩa là nó cũng tương đương với lợi ích mà các doanh nghiệp mạnh nhận được. Sự gia tăng về số lượng và chất lượng của các liên minh mà doanh nghiệp yếu có được là lớn hơn, nhưng nó không gây ảnh hưởng đến lợi ích của các doanh nghiệp mạnh. Và điều này không chỉ là một hiểu biết quan trọng. Mà tôi nghĩ nó còn mang giá trị thực tế, bởi vì những công ty được xem là mạnh còn vì nhiều lí do khác nữa. Và việc cải cách luật IP không làm yếu đi khả năng thu hút đối tác nước ngoài của họ, nó chỉ tạo ra nhiều cơ hội hơn cho các doanh nghiệp yếu. Vậy nên, tôi nghĩ rằng đây là một tin tốt lành cho tất cả các bên.

Trong bài viết của mình, ông cũng tiết lộ rằng nghiên cứu của mình vẫn có một vài hạn chế. Ông có thể giải thích rõ hơn về điều đó?

Hernandez: Giới hạn lớn nhất trong bài nghiên cứu của chúng tôi, đặc biệt là nếu xét về điểm mà chúng tôi bắt đầu, đó là câu hỏi lớn về sự bất bình đẳng giữa các doanh nghiệp. Chúng tôi thực chất chỉ nghiên cứu một phần rất hẹp trong câu hỏi lớn này. Và vì thế, những kết luận của chúng tôi cũng rất hạn chế. Đặc biệt, những gì chúng tôi có thể thừa nhận là: luật sở hữu trí tuệ có lợi nhiều nhất cho các doanh nghiệp yếu, trong khi trên bình diện chung, luật IP cũng đều có lợi cho tất cả doanh nghiệp khi nói về khả năng tiếp cận một thứ rất cụ thể, đó là liên minh đối tác với nước ngoài.

Chúng tôi thực sự không thể nói thêm được gì về rất nhiều tác động khác mà luật IP có thể tạo ra, trong đó bao gồm những vấn đề liên quan đến năng lực công nghệ của doanh nghiệp, bằng sáng chế, hay khả năng tạo ra những sản phẩm mới v.v. Tôi chắc chắn rằng luật IP sẽ còn tạo ra một số tác động tốt, cũng như một số tác động không mấy tích cực đến nền kinh tế nói chung. Có thể trong một số trường hợp, người tiêu dùng cũng bị thiệt hại từ luật IP. Và vì vậy, bài nghiên cứu của chúng tôi chỉ diễn giải được một phần rất nhỏ trong một bức tranh tổng thể lớn hơn nhiều.

Sau cùng thì, ông hi vọng sẽ làm được gì với bài nghiên cứu này? Ông có hi vọng nó sẽ ảnh hưởng đến các chính sách công, chẳng hạn như nó sẽ khuyến khích chính phủ ở các nước đang phát triển áp dụng những bộ luật sở hữu trí tuệ chặt chẽ hơn? Ông hi vọng sẽ đạt được điều gì?

Hernandez: Câu trả lời ngắn gọn là có. Tôi hi vọng bài nghiên cứu này sẽ có những tác động đáng kể. Đầu tiên là đến vấn đề hoạch định chính sách. Những gì chúng tôi phát hiện đó là các nước đang phát triển sẽ có lợi nhiều hơn trong dài hạn với một hệ thống luật IP chặt chẽ.

Có lẽ, đối với người dân phương Tây [ở những quốc gia đã có hệ thống luật IP mạnh], điều này nghe có vẻ như là một kết luận hiển nhiên, nhưng sự thật là, đã có rất nhiều cuộc tranh luận tại các nền kinh tế mới nổi về việc liệu họ có nên chính thức hóa luật IP hay không. Và một lần nữa, tôi nghĩ bài nghiên cứu này chỉ là một phần nhỏ trong bức tranh tổng thể, và kết luận của nó là: nếu xét một cách tổng thể, bạn sẽ có lợi hơn từ việc củng cố luật IP.

Bài nghiên cứu của ông còn có những ý nghĩa thực tiễn nào khác không?

Hernandez: Có hai điều. Thứ nhất là về mặt chính sách. Bởi vì bài nghiên cứu của chúng tôi đã giải đáp được một phần nhỏ trong một đề tài tranh luận lớn hơn, tôi nghĩ nó đã cung cấp thêm một lý do để ủng hộ những chính sách kích thích doanh nghiệp tham gia vào thị trường toàn cầu và hoạt động cạnh tranh toàn cầu. Trong một thời đại của chủ nghĩa bảo hộ và chủ nghĩa hoài nghi về toàn cầu hóa, những thông tin thực tiễn như thế này thực sự là rất cần thiết.

Thứ hai, dưới góc nhìn của doanh nghiệp và nhà quản lý, bài nghiên cứu của chúng tôi cho họ có thêm một lý do để thấu hiểu những dạng chính sách thúc đẩy toàn cầu hóa. Bởi vì họ sẽ có lợi trong dài hạn, và họ không nhất thiết phải coi đây là trò chơi lợi ích có tổng bằng không, mà nó thực chất có thể làm họ trở nên cạnh tranh hơn. Hiện tại, dĩ nhiên là chúng tôi cần phải nghiên cứu nhiều hơn nữa để có được kết luận chính xác, nhưng tôi nghĩ chúng tôi đang đi đúng hướng.

Nguồn: Knowledge@Wharton - HN

Từ khóa: luật sở hữu trí tuệ, toàn cầu hóa, hội nhập, chủ nghĩa bảo hộ, thương mại điện tử

Phân tích - Bình luận

Menu

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 mondialsolution

Trang thông tin này được thực hiện với sự hỗ trợ kỹ thuật của dự án BWTO    
004204838
Go to top