Công ty cho thuê sân khấu tổ chức sự kiện uy tín tại Hà Nội. Công ty cho thuê backdrop uy tín tại Hà Nội - nhiều mẫu mã đẹp. Dịch vụ chữa tắc tia sữa tại nhà, cam kết hiệu quả 100%. Công ty cung cấp, cho Thuê người đại diện cưới hỏi toàn quốc.

Menu
Phân tích - Bình luậnHội nhập kinh tế quốc tếTương lai của thương mại tự do là gì?

Thuế quan của Trump: Chúng là gì và vận hành như thế nào?

thuebienphap

Từng là một công cụ trong các chính sách thương mại quốc gia, chức năng của thuế quan từ lâu đã dần bị phai mờ theo dòng lịch sử, như một tàn tích của thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Hầu hết các chuyên gia coi nó là công cụ gây ảnh hưởng xấu lẫn nhau cho tất cả các quốc gia liên quan. Thế nhưngtrong vài tháng gần đây, Tổng thống Donald Trump đã phủi đi lớp bụi bám trên những công cụ cổ hữu ấy, và khôi phục lại vị trí quan trọng của thuế quan trong cách tiếp cận Nước Mỹ trên hết” của ông với phần còn lại của thế giới.

Tuần vừa qua, Tổng thống Trump đã trút giận lêncác đồng minh của mình là Canada, Mexico và Liên minh châu Âu bằng cách đánh thuế lên các chuyến hàng thép và nhôm chở sang Hoa Kỳ; hầu hết các quốc gia khác thì đã phải đóng thuế kể từ tháng 3 năm nay.

Ông cũng đã đe dọa áp thuế lên tới 150 tỷ USD vào các sản phẩm của Trung Quốc để trừng phạt Bắc Kinhvề việc gây áp lực buộc các công ty Mỹ phải chuyển giao công nghệ nhằm đổi lấy cơ hội tiếp cận thị trường Trung Quốc. Trung Quốc đã tuyên bố sẽ trả đũa lại bằng các chính sách thuế quan của mình.

Tổng thống Trump cũng đã yêu cầu Bộ Thương mại Hoa Kỳ xem xét áp đặt thuế quan đối với các mặt hàng ô tô, xe tải và phụ tùng ô tô nhập khẩu. Ông cho rằng những mặt hàng này, bằng cách nào đó, đã tạo ra một mối đe dọa đối với an ninh quốc gia của Hoa Kỳ.

Để biện hộ cho các chính sách thương mại đầy quyết liệt của mình, Tổng thống Trump đã viết trên Twitter hôm thứ Bảy rằng, "Cuối cùng, Hoa Kỳ cũng đã được đối xử công bằng trong thương mại. Nếu chúng ta đánh thuế bằng không lên những hàng hóa mà họ bán, và họ đánh thuế 25, 50 hay thậm chí 100% vào những thứ chúng ta bán, đó là không công bằng, và chúng ta không thể cứ khoan dung được nữa. Đây không phải là thương mại tự do hay công bằng, nó là thứ thương mại ngu ngốc!”

Trong bài viết này, chúng ta sẽ cùng xem lại thuế quan là gì, chúng vận hành như thế nào và được sử dụng trong quá khứ ra sao. Và trong hiện tại, chuyện gì sẽ có thể xảy ra nếu chúng được áp dụng:

Vậy, thuế quan là gì?

Thuế quan (tariffs) là một khoản phí (tax) áp lên hàng nhập khẩu, thường được tính dưới dạng phần trăm của giá cả giao dịch mà người mua trả cho người bán nước ngoài. Giả sử một nhà bán lẻ người Mỹ mua 100 chiếc ô ngoài trời từ Trung Quốc với giá 5 USD/chiếc, tổng tiền là 500 USD. Thuế suất của Mỹ đối với chiếc ô này là 6,5%/chiếc. Như vậy, nhà bán lẻ sẽ phải trả mức thuế 32,50 USD cho lô hàng, nâng tổng giá tiềntừ 500 USD lên 532,50 USD.

Tại Mỹ, thuế quan - còn được gọi là thuế trưng thu(levies) hayphí hải quan (duties) - được thu bởi cục Hải quan và Bảo vệ biên giới tại 328 cảng nhập cảnh trên toàn quốc. Tiền thu sẽ được chuyển đến Kho bạc. Thuế suất được công bố bởi Ủy ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ trong Biểu Thuế quan Hài hòa, trong đó liệt kê thuế quan của Hoa Kỳ đối với tất cả mọi thứ, từ chuối sấy (1,4%) đếncác loại dù nhảy (3%).

Đôi khi, Hoa Kỳ sẽ áp thêm thuế đối với hàng nhập khẩu nước ngoài nếu xác định mặt hàng đó đang được bán với giá thấp ở mức không công bằng, hoặc đang được hỗ trợ bởi các khoản trợ cấp của chính phủ nước ngoài. Không phải lúc nào cũng dễ dàng để áp một mức thuế cụ thể phù hợp với một sản phẩm cụ thể, hoặc để kịp thời bảo vệ các sản phẩm của quốc gia đang bị cạnh tranh không công bằng.

Mục đích đưa ra các mức thuế quan là gì?

Có hai điều: Để tăng thu nhập cho chính phủ và bảo vệ các ngành công nghiệp trong nước khỏi sự cạnh tranh từ nước ngoài. Trước khi hệ thống thuế thu nhập liên bang được thiết lập vào năm 1913, thuế quan từng là một kênh kiếm tiền lớn cho chính phủ Hoa Kỳ. Ví dụ, trong cuốn sách “Cuộc chiến thương mại: Lịch sử về chính sách thương mại của Mỹ” viết bởi Giáo sư Douglas Irwin, một nhà kinh tế học tại trường Đại học Dartmouth cho biết: kể từ năm 1790 đến 1860, thuế quan tạo nên 90% doanh thu của liên bang.

Ngược lại, trong năm ngoái, hệ thống thuế quan chỉ chiếm khoảng một phần trăm doanh thu của Mỹ.

Trong năm tài chính kết thúc vào ngày 30 tháng 9, chính phủ Hoa Kỳ đã thu về 34,6 tỷ đô la tiền thuế nhập khẩu và phí hải quan. Cục quản lý hành chính và ngân sách của Nhà Trắng dự kiến chính sách ​​thuế nhập khẩu mới sẽ giúp Mỹ thu được 40,4 tỷ đô la trong năm nay.

Những chính sách thuế mới này được dùng để làm tăng giá cả hàng hóa nhập khẩu hoặc trừng phạt các quốc gia nước ngoài liên quan đến các hoạt động thương mại không công bằng, như trợ cấp cho các nhà xuất khẩu và bán phá giá các sản phẩm của họ với giá thấp tới mức không công bằng. Thuế quan giúp kiềm hãm hoạt động nhập khẩu bằng cách làm cho chúng đắt đỏ hơn. Nó cũng làm giảm áp lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp trong nước và cho phép họ có thể tăng giá bán.

Các chính sách thuế quan đã không còn được trọng dụng khi hoạt động thương mại toàn cầu mở rộng sau cuộc Chiến trang Thế giới lần II.

Sự hình thành Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và sự ra đời của các Hiệp định thương mại như Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ (NAFTA) giữa Mỹ, Mexico và Canada đã làm giảm các mức thuế quan hoặc loại bỏ chúng hoàn toàn. Hiện tại, theo báo cáo của Trung tâm nghiên cứu Pew, mức thuế nhập khẩu trung bình của Mỹ là một trong những mức thuế thấp nhất trên thế giới, ở mức 1,6%, ngang bằng với Liên minh châu Âu.

Paula Connelly, một luật sư thương mại tại thành phố Woburn, Massachusetts cho biết, "hiện tại có rất nhiều mặt hàng hoặc là được miễn thuế hoặc có mức thuế suất thấp."

Tại sao các công cụ thuế quan lại hồi sinh?

Sau nhiều năm, khi các hiệp định thương mại ràng buộc các quốc gia trên thế giới chặt chẽ hơn và xóa bỏ các rào cản về thương mại, một làn sóng dữ dội của các nhà dân tuý đã gia tăng chống lại toàn cầu hóa. Bằng chứng rõ ràng là trong cuộc bầu cử năm 2016 của Tổng thống Trump và cuộc bỏ phiếu của người Anh để rời khỏi Liên minh châu Âu diễn ra cùng năm - cả hai đều là những thất bại bất ngờ đối với nền tảng tự do thương mại. Các nhà phê bình phát hiện rằng, các tập đoàn lớn ở những nước phát triển đã khai thác các quy định lỏng lẻo để chuyển nhà máy sang Trung Quốc cũng như các quốc gia có chi phí nhân công thấp hơn, sau đó vận chuyển hàng hóa trở về đất nước của họ trong khi chỉ trả mức thuế thấp hoặc thậm chí là không có thuế. Kể từ khi Trung Quốc gia nhập WTO vào năm 2001, Hoa Kỳ đã mất 3,1 triệu việc làm ở các nhà máy, mặc dù nhiều nhà kinh tế cho rằng phần lớn mất mát đó không phải đến từ thuương mại mà là do các loại robot và các công nghệ khác thay thế công nhân.

Ông Trump đã vận động chiến dịch tranh cử Tổng thống bằng cam kết sẽ viết lại các hiệp định thương mại và đánh trả Trung Quốc, Mexico và các nước khác. Ông đổ lỗi cho những chính sách thương mại lạm dụng của các nước trên đã gây ra tình trạng thâm hụt thương mại dài hạn cho Mỹ - đạt mức 566 tỷ USD vào năm ngoái. Bằng cách áp các mức thuế quan, ông đang bắt đầu biến những lời hùng biện cứng rắng của mình trong chiến dịch tranh cử thành hành động.

Liệu thuế quan có phải là một chính sách khôn ngoan?

Hầu hết các nhà kinh tế học cho là không – ngoại trừ Peter Navarro, cố vấn thương mại của Trump.

Thuế quan làm tăng chi phí nhập khẩu. Và vì chúng làm giảm áp lực cạnh tranh, chúng cho phép các nhà sản xuất Mỹ có cơ hội để tăng giá bán. Điều đó tốt cho các nhà sản xuất trong nước, nhưng lại ảnh hưởng xấu cho hầu hết những người khác.

Đặc biệt, chi phí tăng sẽ làm tổn hại đến người tiêu dùng và các công ty sản xuất dựa vào nguyên liệu nhập khẩu. Một số công ty chuyên thu mua thép nhập khẩu ở Mỹ phàn nàn rằng thuế quan của ông Trump đặt họ vào thế bất lợi trong việc cạnh tranh. Các đối thủ nước ngoài của họ có thể mua thép với giá rẻ hơn và cung cấp những sản phẩm với giá thấp hơn.

Năm 2002, chính quyền Tổng thống George W Bush từng đánh thuế lên thép nhập khẩu. Một nghiên cứu được tài trợ bởi các doanh nghiệp tiêu thụ thép phát hiện rằng, chính sách thuế quan ấy đã làm mất 200.000 việc làm ở Mỹ vào năm 2002.

Nói chung, các nhà kinh tế học cho rằng các chính sách trừng phạt thương mại làm cho nền kinh tế kém hiệu quả hơn. Do đối mặt với ít sự cạnh tranh hơn từ nước ngoài, các công ty trong nước mất đi động cơ để tăng hiệu quả sản xuất hoặc tập trung vào những gì họ làm tốt nhất.

Nguồn: Borneo Bulletin

Từ khoá: chính sách thuế quan, chính sách bảo hộ, hạn chế thương mại, toàn cầu hoá

Phân tích - Bình luận

Menu

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 mondialsolution

Trang thông tin này được thực hiện với sự hỗ trợ kỹ thuật của dự án BWTO    
004204961
Go to top